Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 30/01/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 734/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2017 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1989, địa chỉ: Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt;

2. Bị đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1986, địa chỉ: Xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Nguyễn Thị Thùy L là nguyên đơn khởi kiện với nội dung chị và anh Hà Văn T quen biết, phát sinh tình cảm rồi đi đến hôn nhân tự nguyện. Chị và anh T đã đăng ký kết hôn ngày 18/02/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Sau khi được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, chị và anh T về chung sống cùng nhau tại xã K, huyện T. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến khoảng thời gian tháng 7 năm 2017, anh T có quan hệ ngoại tình nhưng anh T không thừa nhận. Vợ chồng xảy ra cãi mắng lẫn nhau thường xuyên. Mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó và không về chung sống cùng anh T nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị xin ly hôn với anh T. Chị và anh T có 02 con chung là Hà Mạnh D, sinh ngày 01/10/2011 và Hà Thi Kiều A, sinh ngày 20/8/2015. Khi ly hôn, chị L đề nghị chị sẽ trực tiếp nuôi con Hà Thi Kiều A, anh T sẽ trực tiếp nuôi con Hà Mạnh D. Hiện chị đang làm việc tại Công ty TNHH công nghiệp giầy Aurora Việt Nam và có thu nhập trung bình năm triệu đồng một tháng. Việc cấp dưỡng cho con chị sẽ tự thỏa thuận với anh T, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản.

Anh Hà Văn T là bị đơn đồng ý với nội dung về quan hệ hôn nhân và có hai con chung là Hà Mạnh D, sinh ngày 01/10/2011 và Hà Thi Kiều A, sinh ngày 20/8/2015 mà chị Nguyễn Thị Thùy L khai. Nguyên nhân mâu thuẫn ban đầu là do chị L hiểu nhầm anh có quan hệ ngoại tình từ đó vợ chồng xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Anh cũng đã giải thích nhưng chị L không hiểu. Tháng 7/2017, chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị L sinh sống. Anh có đề nghị vợ chồng quay về chung sống nhưng chị L không về. Trước khi ly thân anh thừa nhận có mải chơi nhưng nay công việc, thu nhập của anh ổn định và anh vẫn đang nuôi hai con. Chị L xin ly hôn, anh không đồng ý. Lý do, anh vẫn còn tình cảm với chị và anh không muốn các con sống thiếu bố và mẹ. Do anh không đồng ý ly hôn nên không có ý kiến về việc nuôi con và chia tài sản.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án theo Điều 262 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về con chung, giao con Hà Thi Kiều A cho chị L nuôi, giao con Hà Mạnh D cho anh T nuôi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thùy L xin ly hôn với anh Hà Văn T

Chị L và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận đăng ký kết hôn. Do đó, kết hôn giữa chị L và anh T là hợp pháp. Chị L xin ly hôn, anh T không đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh T không đồng ý ly hôn. Xét quan hệ hôn nhân xuất phát từ tình cảm yêu thương của hai bên. Nhưng tình cảm của chị L dành cho anh T đã không còn, anh T cũng đã thể hiện mong muốn níu kéo nhưng chị L vẫn không thay đổi. Qua đó chứng minh quan hệ giữa chị L và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L xin ly hôn với anh T.

[2] Về nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn

Chị L và anh T có hai con chung. Nay chị L đề nghị chị được trực tiếp nuôi con Hà Thi Kiều A và anh T nuôi con Hà Mạnh D. Lời khai của chị L và anh T thể hiện điều kiện nuôi con của mỗi người là ngang nhau. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con trên cơ sở điều kiện, hoàn cảnh của hiện tại của chị L và anh T, Hội đồng xét xử xét giao mỗi người nuôi một con là hợp lý và giao cháu Hà Thi Kiều A hiện dưới 36 tháng tuổi cho chị L, giao cháu Hà Mạnh D cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với lợi ích của các cháu.

Cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị L và anh T mỗi người nuôi một con và không bên nào đề nghị bên kia cấp dưỡng cho con. Xét quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không buộc chị L và anh T phải cấp dưỡng cho con.

[3] Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hà Văn T không đề nghị chia tài sản nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

- Cho chị Nguyễn Thị Thùy L ly hôn với anh Hà Văn T.

- Giao cho anh Hà Văn T được trực tiếp nuôi dưỡng con là Hà Mạnh D, sinh ngày 01/10/2011; giao cho chị Nguyễn Thị Thùy L được trực tiếp nuôi dưỡng con là Hà Thi Kiều A, sinh ngày 20/8/2015.

Anh Hà Văn T, chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi con được giao cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Chị Nguyễn Thị Thùy L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (ghi trong biên lai thu số 0005932 ngày 01/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên), chị Nguyễn Thị Thùy L đã nộp đủ án phí.

- Chị Nguyễn Thị Thùy L, anh Hà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 30/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:30/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về