Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 12/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 21/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/11/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2018/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2018/QĐXXST-HNGĐ ngay 24 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2018/QĐST-DS, ngày 08/11/2018 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị M, sinh năm 1988 (vắng mặt)

ĐKHKTT: Đội 2 thôn V, xã V, huyện B, H

Chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã H, huyện Q, H

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Đội 2 thôn V, xã V, huyện B, H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Đặng Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh H vào ngày 22/11/2007 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh Q tại Đội 2 thôn V, xã V, huyện B, tỉnh H để sinh sống. Qúa trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh Q ham chơi, thiếu trách nhiệm với gia đình dẫn đến hai anh chị xẩy ra cãi vã, xô sát nhau. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được bạn bè, hai bên gia đình hòa giải nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị M đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 05 năm 2016 đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Chị M nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung la cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/8/2008 và cháu Nguyễn Thùy N, sinh ngày 20/9/2014. Khi ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu N cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, giao cháu T cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Q không gửi bản tự khai không cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của chị M. Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Nguyễn Văn Q nhiều lần đến Tòa án, đến UBND xã Vĩnh Phúc để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do.

Tại các biên bản xác minh ngày 09/10/2018, ngày 19/10/2018 và ngày 22/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với ông Nguyễn Ngọc Q là bố đẻ anh Nguyễn Văn Q; bà Bàn Thị N là mẹ đẻ chị Đặng Thị M; đại diện UBND xã Vĩnh Phúc nơi chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Văn Q sinh sống, phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:

Chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Văn Q có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Q, tỉnh H vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn chị M về nhà anh Q tại Đội 2 thôn V, xã V, huyện B, H để sinh sống. Qúa trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến hai anh chị xẩy ra cãi vã, xô sát nhau. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được bạn bè, hai bên gia đình hòa giải nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên chị M đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2018 đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau.

Quá trình chung sống, chị M và anh Q có 02 con chung la cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/8/2008 và cháu Nguyễn Thùy N, sinh ngày 20/9/2014. Hai anh chị đều là lao động tự do có mức thu nhập khoản 5.000.000 đồng/ tháng, cả hai anh chị đều chưa có nhà riêng mà ở cùng với bố mẹ đẻ.

Toà án nhiều lần mở phiên hoà giải nhưng anh Q vắng mặt không có lý do.

Do đó Toà án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Q; về việc nuôi con chung đề nghị HĐXX, giao cháu Nguyễn Thị T cho anh Qtrực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, giáo cháu Nguyễn Thùy N cho chị Mtrực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung, về án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Đặng Thị M có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là anh Nguyễn Văn Q, anh Nguyễn Văn Q cư trú tại Đội 2 thôn V, xã V, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết củaToà án nhân dân huyện Bắc Quang.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên toà không có lý do, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn Q.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Văn Q xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian ngắn chung sống với nhau hạnh phúc. Đến đầu năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến anh chị xô sát, cãi vã nhau. Mâu thuẫn giữa hai anh chị diễn ra thường xuyên, trong thời gian dài đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn không được cải thiện.Vì vậy đến đầu năm 2018 chị M đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống, anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau.Quá trình giải quyết, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh Q không hợp tác để tự khai và tham gia hòa giải. Xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

[2.2] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, chị Đặng Thị M và anh Nguyễn Văn Q có 02 con chung la cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/8/2008 và cháu Nguyễn Thùy N, sinh ngày 20/9/2014. Mặc dù Tòa án đã nhiều lần phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành lấy lời khai của cháu Nguyễn Thị T nhưng anh Q cùng thân nhân không đưa cháu T đến lấy lời khai theo yêu cầu của Tòa án. Xét về điều kiện nuôi con của các bên thấy rằng: Anh chị có hai con chung, đều là lao động tự do, có mức thu nhập từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/ tháng, chưa có nhà riêng mà ở nhờ nhà bố mẹ đẻ. Vì vậy căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu N cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, giao cháu T cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về chia tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.4] Ngoài ra nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 51, Điều 57, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

2. Về nuôi con: Xử giao cháu Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/8/2008 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi; giao cháu Nguyễn Thùy N, sinh ngày 20/9/2014 cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0000584, ngày 24/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST ngày 12/11/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:21/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Quang - Hà Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về