Bản án 21/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 21/2017/HSST NGÀY 29/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 29-9-2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã C, huyện T1; Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang mở phiên tòa lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2017/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2017 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn T (P), sinh ngày 1980; nơi đăng ký hộ khẩu: không; chỗ ở hiện nay: ấp A, xã C, huyện T1, tỉnh An Giang; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: đạo Phật; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị Lệ T3; vợ: Nguyễn Thị Y (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2014.

Tiền án: ngày 04-6-2014 bị Tòa án nhân dân huyện T1 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-10-2016.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08-7-2017 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

+ Bị hại: em Đặng Xuân M, sinh ngày 25-3-2004 (vắng mặt) Cư trú: ấp V, xã V1, huyện T1, tỉnh An Giang.

Đại diện hợp pháp của bị hại: ông Đặng Văn O, sinh năm 1963 (cha bị hại, có mặt)

Cư trú: ấp V, xã V1, huyện T1, tỉnh An Giang.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07-7-2017, bị cáo Nguyễn Văn T di chuyển từ xã C huyện T1 đến xã V1, huyện T1 với dự định sang tham gia chơi casino. Tuy nhiên do ít tiền nên bị cáo nảy sinh ý định tìm tài sản lấy trộm. Với ý định đó, khoảng 02 giờ 30 phút ngày 08-7-2017, bị cáo Nguyễn Văn T phát hiện nhà của ông Đặng Văn O thuộc khu vực ấp V, xã V1, huyện T1 không có cửa mà chỉ được rào lại bằng lưới B40, bị cáo đã dùng kìm nhặt được trên đường đi cắt cửa lưới B40, đột nhập vào bên trong rồi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo R827 mùa xanh đen của em Đặng Xuân M. Khi phát hiện bị mất, em M đã cho ông O biết, ông O trình báo công an và bị cáo bị bắt giữ.

Tại Kết luận định giá tài sản số 28/KL.HĐĐG-TTHS ngày 11-7-2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T1 kết luận điện thoại di động hiêu Oppo R827 màu xanh đen trị giá 800.000 đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo R827 màu xanh đen; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có viền hồng, số imel 3563531051844312/1; 01 ví tiền màu đen, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn T, số 352235736; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro trắng đen, tay áo màu xanh; 01 cây kìm màu đỏ đen và 357.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 22/VKS-HS ngày 14-9-2017 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Bị hại, em Đặng Xuân M trình bày: khoảng 03 giờ ngày 08-7-2017, em thấy một nam thanh niên mặc quần jean ngang gối, cao khoảng 1m70 ngồi như quỳ gối ngay sát vách mùng nhưng do sợ quá, em kéo chăn trùm kín đầu; khoảng 15 phút sau, em ra bật đèn thì phát hiện mất điện thoại đang sạc pin nên tri hô.

Đại diện hợp pháp của em Đặng Xuân M, ông Đặng Văn O trình bày: khoảng 03 giờ 30 phút ngày 08-7-2017, ông giật mình tỉnh giấc do nghe tiếng con gái của ông tri hô về việc mất điện thoại, ông có gặn hỏi thì được con ông mô tả lại việc thấy người nam thanh niên đột nhập. Ông tìm kiếm và báo với Trưởng ấp V về việc mất trộm. Sau đó, ông được báo tin đã bắt được người thanh niên theo như mô tả của ông. Nay, con của ông đã nhận lại chiếc điện thoại nên không có yêu cầu bồi thường, yêu cầu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.

Người làm chứng, ông Võ Văn N cho biết: khoảng 02 giờ ngày 08-7-2017 có người thanh niên vô quán của ông mua nửa gói thuốc lá. Sau đó một khoảng thời gian, người thanh niên này quay lại quán của ông và gọi nước uống, sau đó khoảng 15 phút thì ông thấy lực lượng công an đưa người thanh niên này đi và sau khi dò hỏi thì ông được biết lực lượng công an mời người thanh niên về làm việc vì nghi ngờ người thanh niên này lấy trộm điện thoại.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07-7-2017, bị cáo từ xã C đi đến xã V1, huyện T1 định sang casino chơi nhưng chỉ còn một ít tiền nên bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, do vậy, bị cáo không qua casino mà quay lại và đi về hướng xã V1. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 08- 7-2017, bị cáo dùng kìm nhặt được cắt cửa rào B40 nhà ông Đặng Văn O, đột nhập vào lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo R827 của em Đặng Xuân M. Sau khi lấy trộm, bị cáo đã tháo bỏ sim và quay về quán nước, gọi nước uống và sau đó khoảng 15 phút thì bị lực lượng công an bắt giữ.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1

Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và đề nghị:

Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị trả cho bị cáo các tài sản cá nhân không liên quan đến việc phạm tội, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cây kìm do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự, do đại diện người bị hại không có yêu cầu bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được T tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, đã đủ cơ sở để kết luận: vào khoảng 03 giờ ngày 08-7-2017, bị cáo Nguyễn Văn T đã đột nhập vào nhà của ông Đặng Văn O thuộc ấp V, xã V1, huyện T1 lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo R827 trị giá 800.000 đồng của em Đặng Xuân M.

Bị cáo Nguyễn Văn T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” và chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại có hành vi lén lút trộm cắp tài sản trị giá 800.000 đồng của em Đặng Xuân M nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xử phạt một mức án tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ của tội phạm thì thấy: bị cáo Nguyễn Văn T là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã nhiều lần bị điều tra, truy tố, xét xử và xử phạt về tội chiếm đoạt tài sản nhưng khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không thức tỉnh, kiểm điểm, tu dưỡng bản thân mà trái lại, chỉ vì mục đích muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu bản thân, thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ của bị cáo, bị cáo lợi dụng đêm tối, điều kiện bảo quản, quản lý tài sản của người khác để tiếp tục phạm tội chiếm đoạt tài sản khi chưa được xóa án tích, phạm tội đối với trẻ em nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1

Điều 48 Bộ luật sự đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại Oppo R827 và quyết định trả lại cho em Đặng Xuân M là phù hợp với quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vật chứng gồm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có viền hồng, số imel 3563531051844312/1; 01 ví tiền màu đen, 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn T, số 352235736; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro trắng đen, tay áo màu xanh và 357.000 đồng là các tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với cây kìm màu đỏ đen, xét đây là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

Em Đặng Xuân M đã nhận lại tài sản, đồng thời em Đặng Xuân M và ông Đặng Văn O không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.

Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (P) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (P) 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-7-2017.

Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;

Giao trả: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có viền hồng, số imel 3563531051844312/1; 01 ví tiền màu đen; 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Văn T, số 352235736; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro trắng đen, tay áo màu xanh và 357.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Tịch thu tiêu hủy 01 cái kìm màu đỏ đen. (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18-9-2017 của Cơ quan điều tra – Công an huyện Tri Tôn và Ủy nhiệm chi ngày 18-9-2017 của Kho bạc Nhà nước huyện Tri Tôn)

Áp dụng Điều 99, Điều 231 và Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T (P) phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

150
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2017/HSST ngày 29/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:21/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tri Tôn - An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về