Bản án 204/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 204/2018/HNGĐ-ST NGÀY 14/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 14 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2018/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 25/10/2018 giữa các đương sự

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1980; địa chỉ: Xóm X, xã TX, huyện TC, tỉnh NA. Có mặt.

Bị đơn: Anh Hồ Sỹ N, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm X, xã TX, huyện TC, tỉnh NA. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2018, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày như sau: Chị và anh Hồ Sỹ N kết hôn với nhau vào ngày 02/6/2008 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TX, huyện TC, tỉnh NA.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến tháng 12/2009 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Hồ Sỹ N thường xuyên rượu chè, đánh đập hành hạ chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2018 cho đến nay.Tình cảm vợ chồng là không còn nữa chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hồ Sỹ N.

Về nuôi con chung:Vợ chồng có hai con chung là Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 và Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013; giao cho anh Hồ Sỹ N nuôi cháu Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 . Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ý kiến của bị đơn: Tại bản tự khai, biên bản hòa giải anh Hồ Sỹ N có ý kiến như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị Thanh T kết hôn với nhau vào ngày 02/6/2008 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TX, huyện TC, tỉnh NA.Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến đầu năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh N là do tính tình không hợp, vợ chồng cãi vã lẫn nhau, tình cảm vợ chồng là đang còn nên anh không đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Thanh T.

Về nuôi con chung:Vợ chồng có hai con chung là Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 và Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013. Anh Hồ Sỹ N có ý kiến trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi cả hai người con và không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản và nợ: Anh Hồ Sỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong qúa trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Hồ Sỹ N.

Về nuôi con chung: Giao cháu Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 cho chị anh Hồ Sỹ N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Giao cháu Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về chia tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Sỹ N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T thuộc đối tượng hộ nghèo năm 2018 và có đơn xin miễn án phí do đó đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Ngày 24/10/2018 Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng do bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa thì Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho bị đơn là anh Hồ Sỹ N. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Sỹ N là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh X, huyện TC, tỉnh NA vào ngày 02/6/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hạnh phúc và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng không tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào đầu năm 2018 và hai bên đã sống ly thân cho đến nay. Chị Nguyễn Thị Thanh T xin ly hôn thì anh Hồ Sỹ N không đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Sỹ N chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T, xử cho chị được ly hôn với anh Hồ Sỹ N là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]Về nuôi con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 và Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013. Chị Nguyễn Thị Thanh T có nguyện vọng được nuôi cháu Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013; giao cho anh Hồ Sỹ N nuôi cháu Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009. Ý kiến anh Hồ Sỹ N là có nguyện vọng được nuôi cả hai người con. Tại biên bản ghi lời khai ngày 02/10/2018 ý kiến cháu Hồ Sỹ Q là có nguyện vọng được ở với bố Hồ Sỹ N.

Để đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con và phù hợp với nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử giao cháu Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 cho anh Hồ Sỹ N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng là đúng với quy định tại các Điều 81;82;83 Luật hôn nhân và gia đình. Các đương sự không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]Về chia tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Sỹ N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T thuộc đối tượng hộ nghèo năm 2018 và có đơn xin miễn án phí. Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị Thanh T.

[6] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 15 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn anh Hồ Sỹ N.

Về nuôi con chung: Giao con chung là Hồ Sỹ Q, sinh ngày 16/3/2009 cho anh Hồ Sỹ N trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung là Hồ Thị P, sinh ngày 14/8/2013 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Hồ Sỹ N không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị Thanh Tâm. 

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 204/2018/HNGĐ-ST ngày 14/11/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:204/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Chương - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về