Bản án 202/2021/DS-PT ngày 19/05/2021 về tranh chấp chia thừa kế

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 202/2021/DS-PT NGÀY 19/05/2021 VỀ TRANH CHẤP CHIA THỪA KẾ

Ngày 19 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 93/2021/TLPT-DS ngày 10/3/2021 về việc "Tranh chấp chia thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 167/2021/QĐ-PT ngày 26/4/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2021/QĐPT-HPT ngày 13/5/2021 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954.

Trú tại: Thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai,Thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn LT, Sinh năm 1942.

Trú tại: Thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn ĐC H, sinh năm 1963(Văn bản ủy quyền ngày 13/7/2019)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1944;

- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949;

Cùng trú tại: Tiểu khu 9, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình.

Đại diện theo ủy quyền của bà S, bà D là bà Nguyễn Thị L. Văn bản ủy quyền ngày 05/7/2019;

- Bà Đinh Thị T, sinh năm 1965, - Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1988, - Anh Nguyễn Thiện ĐC, sinh năm 1994 Cùng trú tại: Thị Trấn Yên Viên, huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

- Bà Tạ Thị Hạ, sinh năm 1939 (vợ ông LT) Trú tại: Thôn Cát Động, Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai,Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn ĐC H, sinh năm 1963(Văn bản ủy quyền ngày 12/3/2019) - Ông Lê Đình T, sinh năm 1952, Trú tại: Thôn Cát Động,Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai,Thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của bà Nguyễn Thị L là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Về quan hệ huyết thống:

Bố bà là cụ Nguyễn Văn Lưu, chết ngày 02/11/1996, mẹ bà là cụ Nguyễn Thị Đục, chết ngày 16/11/2001. Hai cụ sinh được 6 người con gồm: Ông Nguyễn Văn LT, sinh 1942; bà Nguyễn Thị S, sinh 1944; ông Nguyễn Văn Sáng là Liệt sỹ chống Mỹ, chưa có vợ con; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949; bà Nguyễn Thị L, sinh 1954; ông Nguyễn Văn Tác, chết năm 2016, có vợ là bà Đinh Thị T, sinh năm 1965, có 02 con là: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1980, Nguyễn Thiện ĐC, sinh năm 1994. Ngoài những người con trên hai cụ không có con riêng, con nuôi, con ngoài giá thú. Cụ Lưu và cụ Đục chết không để lại di chúc.

Về di sản:

Hai cụ để lại di sản gồm: Đất thổ cư 1,2 sào; 06 miếng đất ( 6 × 36m2= 216m2) đất ao và 02 sào ruộng của gia đình Liệt sỹ. Về phần đất ruộng 02 sào ông LT đã bán bà, bà S và bà D không có ý kiến gì. Phần đất này chính quyền có đền bù khi thu hồi năm 2007, bà có ra yêu cầu và bà đã nhận được phần của bà. Bà và bà D, bà S không có ý kiến gì về phần đất ruộng này. Đất thổ cư thì trước đây khi cụ Lưu còn sống đã chia cho bà 108m2, bà đã làm sổ đỏ năm 2016. Ông Nguyễn Văn Tác là chồng của bà Đinh Thị T, được chia diện tích 155m2, phần còn lại ở giữa thì chia cho ông LT sử dụng. Hiện nay ông LT làm sổ đỏ chưa thì bà không biết.

Riêng phần đất ao là 6 thước (khoảng 216m2) khi còn sống thì hai cụ chưa chia cho ai, vẫn là tài sản chung của cả gia đình. Nay thửa đất ao này ông LT đã tự ý bán cho người khác và không hỏi gì đến ý kiến của chị em trong gia đình.

Từ trước đến nay bà là người ở cùng, chăm sóc bố mẹ. Ông LT đi ở rể, sống bên nhà vợ nên không chăm sóc bố mẹ vì thế bà phải chăm nom các cụ đến khi chết. Nay ông LT tự ý bán phần đất ao cho ông T mà không hỏi ý kiến của chị em trong gia đình; trong khi đó, trước khi cụ Lưu chết có dặn dò anh chị em trong nhà là: Phần cái ao cụ Lưu để lại trong trường hợp nếu ai sử dụng thì thôi (không nói là cho ai sử dụng) chỉ nói chung chung như vậy; nếu bán đi thì phải chia đều cho anh chị em trong nhà; ông LT tự ý bán phần đất ao này, không hỏi ý kiến của các chị em và tiền bán đất ông LT cũng không chia cho các chị em;

Nay bà yêu cầu ông LT phải chia đều phần tiền đã bán đất cho các anh chị em trong nhà. Về phần đất ông Lê Văn T đã mua của ông LT (thực chất là tài sản của gia đình bà do bố mẹ để lại) nhưng do ông T cũng không biết đất này là đất của cả gia đình mà ông T nghĩ là đất của riêng ông LT nên mua. Bà, bà S và bà D cũng không có ý kiến gì về việc này đối với ông T mà chỉ yêu cầu Tòa án xem xét chia thừa kế phần tài sản là cái ao do bố mẹ bà để lại cho anh chị em trong nhà. Nay ông LT đã bán thì Tòa buộc ông LT phải thanh toán trả lại phần thừa kế của chị em bà bằng giá trị tiền ở thời điểm hiện tại theo đúng quy định của pháp luật. Phần đất thổ cư mà trước đây bố mẹ bà đã chia cho anh chị em trong gia đình trong đó có phần đất mà ông LT đang sử dụng ( có gian thờ trong căn nhà cấp 4) thì bà, bà S và bà D không có ý kiến gì. Bà chỉ yêu cầu Tòa án chia phần đất ao mà ông LT đã bán cho ông T.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Anh thừa nhận bà L trình bày là đúng, ông bà nội anh khi chết không để lại di chúc. Năm 2007 HTXNN Kim Bài có chia cho ông bà nội anh 2,1 sào đất ruộng và 1/2 ao trong làng Cát Động. Sau đó, Nhà nước thu hồi toàn bộ 02 sào và trả lại 72m2 đất dịch vụ cho anh em trong nhà và ½ cái ao trong làng Cát Động là 216m2 nhưng hiện nay ông LT đã bán hết, không còn nữa. Bố anh bán cho ông T và anh Kiên là đúng, trong 72m2 đất dịch vụ bố anh đã bán cho ông Kiên 54m2, còn 18m2 đã trả lại cho bà L để dùng (giao lại cho bà L hưởng) coi như theo anh là bà L có tiêu chuẩn rồi. Khi bố mẹ anh bán đất cho ông T bố mẹ anh có bìa đỏ, bán với giá 3,5 triệu đồng/m2. Nay bà L kiện chia thừa kế đối với 216 m2 đất, anh không đồng ý do bà L là con gái đã đi lấy chồng và không ở được nhà chồng quay về nhà mẹ đẻ ở, bản thân bà L đã được chia 108m2 của các cụ để lại.

Về việc nhận 18m2 đất dịch vụ bà L có ý kiến: Khi Nhà nước thu hồi 2,1 sào đất ruộng và trả lại 72m2 đất dịch vụ nhưng sau đó ông LT bán hết, bà có nhận 18m2 và hiện nay bà không kiện đất ruộng được chia dịch vụ nữa mà chỉ yêu cầu ông LT phải chia đều phần đất ao 216m2 đã bán cho anh em trong nhà theo pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện chia thừa kế phần đất ao. Do ông LT đã bán đất ao cho ông T nên ông LT phải chia đều tiền bán đất cho anh chị em trong nhà theo giá khi ông LT bán là 3,5 triệu đồng/m2.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị D thống nhất với ý kiến của bà L đã trình bày về huyết thống và di sản. Bà D, bà S yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật phần đất ao mà ông LT đã bán cho ông T. Yêu cầu ông LT phải chia đều số tiền bán ao cho các anh chị em trong nhà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị T và 02 con của bà Thanh không có văn bản trình bày và có đơn từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T trình bày: Nhà ông liền kề mảnh đất của ông Nguyễn Văn LT. Khi ông biết ông LT thông tin bán đất ông đã hỏi và xem bìa đỏ nên ông và ông LT đã thỏa thuận mua bán với nhau, đã thống nhất làm đầy đủ thủ tục hồ sơ sang tên cho ông và hai bên đã thanh toán tiền sòng phẳng theo thỏa thuận với giá 3,5 triệu đồng/m2. Từ khi mua mảnh đất ông đã cải tạo, xây tường cổng để sử dụng. Ông không có liên quan gì đến việc nội bộ gia đình ông LT, bà L. Việc ông mua mảnh đất của ông LT là đúng quy định pháp luật. Ông xin từ chối tham gia tố tụng tại tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

1/Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

- Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lưu, cụ Đục là 05 người (05 kỷ phần); Gồm: Nguyễn Văn LT, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn Tác (Đã chết năm 2016) do đó vợ và con ông Tác ( Bà Đinh Thị T, anh Nguyễn Thành Đ, anh Nguyễn Thiện ĐC) là người được thừa kế kỷ phần của ông Tác. Kỷ phần thừa kế của họ được hưởng cụ thể là:

- Xác nhận di sản cụ Lưu, cụ Đục để lại là: 01 thửa đất ao có diện tích theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất là 238m2 tại thôn Cát Động,Thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội có giá trị thành tiền là: 833.000.000 đồng.

- Chia phần di sản thừa kế của cụ Lưu, cụ Đục theo pháp luật làm 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần 166.600.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị L kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là: 166.600.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị S kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là: 166.600.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị D kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là: 166.600.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Đinh Thị T,anh Nguyễn Thành Đ và anh Nguyễn Thiện ĐC kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là: 166.600.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị HĐXX cho bà được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, bà không đồng ý nhận bằng giá trị. Nếu thanh toán bằng giá trị thì bà đồng ý nhận thanh toán theo giá ông LT chuyển nhượng cho ông T là 3.500.000/m2.

Bị đơn ông Nguyễn Văn LT do anh Nguyễn ĐC H đại diện đề nghị HĐXX xét xử theo quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị D thống nhất với ý kiến của bà L.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình T đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.

HĐXX công bố ý kiến của bà Lã Thị Liêm vợ ông T.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung:

*Về huyết thống:

Cụ Nguyễn Văn Lưu và cụ Nguyễn Thị Đục có 06 người con gồm: Ông Nguyễn Văn LT, sinh 1942; bà Nguyễn Thị S, sinh 1944; ông Nguyễn Văn Sáng là liệt sỹ, chưa có vợ con; bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949; bà Nguyễn Thị L, sinh 1954; ông Nguyễn Văn Tác, chết năm 2016, có vợ là Đinh Thị T, sinh năm 1965 và 02 con là: Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1988; Nguyễn Thiện ĐC, sinh năm 1994. Ngoài những người con trên hai cụ không có con nuôi hay con riêng nào khác.

Cụ Lưu chết năm 1996 và cụ Đục chết năm 2001 không để lại di chúc. Theo quy định tại điểm a Khoản 1 điều 651 Bộ luật dân sự 2015 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lưu, cụ Đục gồm 05 người: Ông LT, bà S, bà D, bà L, ông Tác ( chết năm 2016), người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Tác gồm bà Thanh vợ ông Tác, anh Đ, anh ĐC là con của ông Tác. Ông Nguyễn Văn Sáng chết, chưa có vợ con vì vậy kỷ phần thừa kế của ông Sáng được chia đều cho 05 đồng thừa kế.

Do ông Tác đã chết nên bà Thanh và 02 con được hưởng kỷ phần của ông Tác trong khối tài sản được thừa kế. Bà Thanh và 02 con không trình bày, không nêu ý kiến và nguyện vọng về phần tài sản thừa kế, về quan hệ huyết thống, về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, đồng thời có đơn xin từ chối tham gia tố tụng. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì kỷ phần được thừa kế của ông Tác (do ông Tác đã chết) phải được giao lại cho bà Thanh, vợ ông Tác và 02 con ông Tác.

* Về di sản:

Các đương sự thống nhất xác định, di sản của hai cụ để lại gồm:

Thửa đất số 246, tờ bản đồ số 01 diện tích 238m2 tại thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội hiện do ông Lê Văn T đang quản lý và sử dụng do ông Nguyễn Văn LT đã chuyển nhượng cho ông T.

Theo UBND thị trấn Kim Bài cung cấp: Thửa 246 tờ bản đồ số 01 diện tích 520m2 thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, Thanh Oai, Hà Nội mang tên ông Nguyễn Văn Lam tại sổ mục kê năm 1995-1997. Nguồn gốc do ông cha để lại. Năm 2004 thì thửa đất trên được cấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn Lam và Nguyễn Văn LT. Đến năm 2014 thì hai ông đã tách và chia đôi tách thửa.

Cụ Nguyễn Văn Lam trình bày: Trước đây bà nội cụ Lam có cho cụ Lam và cụ Lưu (là anh trai cụ Lam) mỗi người một nửa thửa đất ao. Sau này cụ Lam làm sổ đỏ tách ra và bán cho người khác. Còn phần của cụ Lưu thì sau này ông LT sử dụng.

Về thửa đất đứng tên ông LT: Thửa đất số 246, tờ bản đồ số 1, địa chỉ: thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội, diện tích 238m2, mục đích sử dụng: đất ở, thời gian sử dụng: lâu dài đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 055121 ngày 08/5/2014 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn LT. Về biến động: Ngày 09/5/2018 đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông Lê Văn T sinh năm 1952 trú tại thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

Theo đại diện theo ủy quyền của ông LT thì cụ Lưu và cụ Đục đã cho ông LT diện tích đất ao này nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ về việc cho tặng.

Đủ cơ sở xác định thửa đất số 246, tờ bản đồ số 1, thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội, diện tích 238m2 là di sản của cụ Lưu và cụ Đục Theo bà L, bà S, bà D trình bày thì các cụ có nói:“ Riêng về phần cái ao nếu ai sử dụng thì thôi còn nếu bán đi thì phải chia đều cho anh chị em trong nhà”. Tuy vậy, đây chỉ là lời nói của cụ còn không có văn bản nào thể hiện nội dung này. Mặt khác các đương sự đều thừa nhận cụ Lưu, cụ Đục chết không để lại di chúc. Do cụ Lưu và cụ Đục chết, không để lại di chúc nên chia thừa kế theo luật.

Khi ông T nhận chuyển nhượng thửa đất ao từ ông LT thì Hộ ông LT gồm ông LT và bà Tạ Thị Hạ, vợ ông LT đã được cấp GCN đối với thửa đất số 246, tờ bản đồ số 1, thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, TP Hà Nội và hiện ông T đã được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất ao này nên ông T được coi là người thứ ba ngay tình theo quy định Điều 133 Bộ luật dân sự 2015. Vì vậy, không thể giao di sản bằng hiện vật cho bà L, bà S và bà D. Theo yêu cầu của nguyên đơn thì việc ông LT đã bán thửa đất ao cho ông Lê Văn T và hiện ông T đã và đang sử dụng hợp pháp nguyên đơn cũng không yêu cầu đòi lại tài sản này và cũng không có ý kiến gì về việc ông T phải trả lại tài sản đã nhận chuyển nhượng nhưng về phía ông LT, là người tự ý kê khai và làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trả lại cho các đồng thừa kế giá trị phần đất mà họ được hưởng theo quy định pháp luật;

Bản án sơ thẩm chia di sản cho các thừa kế bằng giá trị và buộc ông LT phải thanh toán cho các đồng thừa kế là phù hợp với quy định.

Tại BL78 bà L đề nghị được chia di sản bằng giá trị tại thời điểm hiện tại. Tại phiên tòa sơ thẩm bà L, bà S, bà D đề nghị được chia di sản bằng giá trị tại thời điểm ông LT chuyển nhượng cho ông T. Tại cấp phúc thẩm bà L, bà S, bà D có nguyện vọng được nhận di sản bằng hiện vật, nếu chia bằng giá trị các bà đồng ý nhận bằng giá trị tại thời điểm ông LT chuyển nhượng cho ông T là 833.000.000 đồng.

Các tài sản khác là các công trình xây dựng trên đất do ông Lê Văn T xây dựng và cải tạo để sử dụng sau khi nhận chuyển nhượng của ông LT là tài sản của ông T không liên quan đến di sản thừa kế.

Chia di sản thừa kế của cụ Lưu, cụ Đục làm 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần có giá trị là 166.600.000 đồng. Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị D mỗi người 166.600.000 đồng; thanh toán trả cho bà Đinh Thị T, anh Nguyễn Thành Đ và anh Nguyễn Thiện ĐC kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là 166.600.000 đồng.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L

Về án phí:

Do ông Nguyễn Văn LT, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị S ,bà Nguyễn Thị D là người cao tuổi nên theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày13/06/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao bà L, ông LT, bà S, bà D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bà Đinh Thị T,anh Nguyễn Thành Đ và anh Nguyễn Thiện ĐC phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá ngạch đối với phần di sản được hưởng là 8.330.000 đồng.

Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2020/DS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 658, 660, 685, 688 BLDS năm 2015;

- Điều 95, điều 167, 170 Luật đất đai năm 2013,

- Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L đối với bị đơn ông Nguyễn Văn LT về việc chia thừa kế.

- Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn Lưu và cụ Nguyễn Thị Đục gồm: Ông Nguyễn Văn LT; bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Tác (chết năm 2016); người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Tác là: Bà Đinh Thị T, vợ ông LT, anh Nguyễn Thành Đ, anh Nguyễn Thiện ĐC con ông Tác.

- Xác nhận di sản cụ Lưu, cụ Đục để lại là: 01 thửa đất ao có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 238m2 tại thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội có giá trị là 833.000.000 đồng đồng.

Cụ Lưu và cụ Đục chết không để lại di chúc, chia thừa kế theo luật.

- Chia di sản thừa kế của cụ Lưu, cụ Đục làm 5 kỷ phần, mỗi kỷ phần có giá trị là 166.600.000 đồng.

Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị D mỗi người 166.600.000 đồng Buộc ông Nguyễn Văn LT phải thanh toán trả cho bà Đinh Thị T, anh Nguyễn Thành Đ và anh Nguyễn Thiện ĐC kỷ phần được hưởng thừa kế bằng tiền là 166.600.000 đồng.

2.Về án phí:

Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà LT không phải chịu án phí phí phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 02404 ngày 28/01/2021 của Chi cục thi hành án huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn LT, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị S ,bà Nguyễn Thị D là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm Bà Đinh Thị T, anh Nguyễn Thành Đ và anh Nguyễn Thiện ĐC phải phải chịu 8.330.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

94
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 202/2021/DS-PT ngày 19/05/2021 về tranh chấp chia thừa kế

Số hiệu:202/2021/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về