Bản án 20/2020/HS-ST ngày 28/05/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 20/2020/HS-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2020/HSST ngày 18/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2020/QĐXXST-HS ngày 23/4/2020 đối với các bị cáo:

* Họ và tên: Hồ Thị L, sinh ngày: 02/01/1969, tại xã Sơn H, huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 14, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng phái: Đảng viên (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); Con ông: Hồ Huy C (Đã mất), con bà: Phạm Thị C (Đã mất); Chồng: Lê Văn T (Đã mất); Con có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 1990, đứa nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Họ và tên: Trần Thị H, sinh ngày: 10/10/1972, tại thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá; Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Sỹ T (Đã mất), con bà: Ngô Thị M (Đã mất); Chồng: Đặng Văn H, sinh năm 1969, trú tại tổ dân phố 4, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Con có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 1992, đứa nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Họ và tên: Bùi Thị P, sinh ngày: 12/9/1970, tại thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Quang C, con bà: Nguyễn Thị K (Đã mất); Chồng: Hoàng Quốc T, sinh năm 1967, trú tại tổ dân phố 8, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Con có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 1992, đứa nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 20/01/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Họ và tên: Nguyễn Thị C, sinh ngày: 06/7/1964, tại xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn Thanh M, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 09/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn N (Đã mất), con bà: Trần Thị R (Đã mất); Chồng: Phan Minh T, sinh năm 1957, trú tại thôn Thanh M, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Con có 03 đứa, đứa lớn nhất sinh năm 1986, đứa nhỏ nhất sinh năm 1989; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/12/2008, bị Công an huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, theo Quyết định số 15/QĐ-XPHC, ngày 10/12/2008; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 24/12/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trần Thị M, sinh năm 1963; nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: Thôn 6, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Bà Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1970; nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: Thôn Hưng T, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 16 phút ngày 08/10/2019, tại quán cà phê 5555, tổ dân phố 10, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên lập biên bản bắt quả tang, thu giữ của Hồ Thị L 01 điện thoại di động sử dụng để tiếp nhận “Bảng Đề” của những người đánh Đề và các thư ký ghi Đề. Tại thời điểm bị bắt giữ, chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng (Quay thưởng vào hồi 18 giờ 30 phút, ngày 08/10/2019) nên chưa tính phần thắng, thua của các đối tượng. Quá trình điều tra xác định:

Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của nhà nước, Hồ Thị L đã nảy sinh ý định đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Đề” nhằm thu lợi bất chính (Chơi số “Đề” bao gồm: số Đề, số Lô, số Ba càng và số Xiên). Hồ Thị L đứng ra làm chủ “Đề” và đặt vấn đề với Trần Thị H, Bùi Thị P và Nguyễn Thị C làm thư ký ghi “Đề” cho mình (trực tiếp ghi số “Đề” và thu tiền của những người đánh “Đề”, sau đó chuyển “Bảng Đề” (tập hợp các số Đề, Lô, Ba càng, Xiên) cho chủ “Đề” qua tin nhắn điện thoại và tin nhắn Zalo). Hồ Thị L thỏa thuận mức tiền H hồng mà các thư ký được hưởng như sau: Thư ký ghi số Đề, Xiên, Ba càng được hưởng 20% trên tổng số tiền mà thư ký ghi Đề thu được; Được hưởng 3,5% trên tổng số tiền thư ký ghi số Lô thu được. Các thư ký phải chuyển toàn bộ “Bảng Đề” qua tin nhắn Zalo của điện thoại di động cho Hồ Thị L trước 18 giờ 15 phút hàng ngày và sau khi chuyển “Bảng Đề” nếu L đồng ý nhận “Bảng Đề” thì sẽ nhắn tin trả lời Oke (tức là đồng ý nhận “Bảng Đề” của thư ký đánh). Sau khi có kết quả xổ số Miền Bắc, đến ngày hôm sau giữa thư ký ghi “Đề” và chủ “Đề” tính toán số tiền ghi “Đề” thu được, trừ đi số tiền đánh trúng “Đề” phải trả cho những người đánh “Đề”, trừ đi tỷ lệ phần trăm mà thư ký được hưởng theo thỏa thuận. Nếu thừa thì các thư ký phải trả cho Hồ Thị L, nếu thiếu thì L phải trả để thư ký trả cho những người trúng “Đề”.

Hình thức đánh “Đề” là căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 30 phút hàng ngày, nếu đánh trúng hai số cuối cùng của giải đặc biệt thì gọi trúng “Đề” với tỷ lệ ăn thua là 1/70 lần; nếu đánh trúng ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì gọi là trúng “Ba Càng” với tỷ lệ ăn thua 1/350 lần; nếu đánh trúng hai số cuối cùng của một trong tất cả các giải thưởng thì gọi là trúng “Lô” mỗi điểm Lô người đánh phải trả 20.000 đồng, thắng được hưởng 70.000 đồng (1/3,5 lần); nếu đánh trúng hai hoặc ba số lô cùng một lúc gọi là “Xiên”, Xiên 2 tỷ lệ ăn thua là 1/10 lần, Xiên 3 tỷ lệ ăn thua 1/40 lần.

Các thư ký đã ghi “Đề”, thu tiền của những người đánh Đề ngày 08/10/2019 và chuyển “Bảng Đề” bằng tin nhắn điện thoại và tin nhắn Zalo của điện thoại di động cho Hồ Thị L, cụ thể như sau:

1. Thư ký Trần Thị H: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 07 phút đến 17 giờ 56 phút ngày 08/10/2019, Trần Thị H sử dụng điện thoại di động của mình với số thuê bao 0857927864, vào tin nhắn Zalo với tên hiển thị (Trần Thị H) chuyển 05 “Bảng Đề” cho Hồ Thị L, qua số Điện thoại 0373107905 tên hiển thị (Lộc Phát) và L xác nhận đã tiếp nhận “Bảng Đề”, cụ thể như sau:

* Tin nhắn thứ nhất: Vào hồi 17 giờ 07 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 03 số Đề: Đề đầu 3, đít 3 với số tiền 2.000.000đồng; Đề 53, 93, mỗi số 100.000 đồng, tổng số tiền đánh Đề của khách là 2.200.000 đồng, những người đánh là khách qua đường nên H không biết họ tên địa chỉ cụ, H đã nhận đủ tiền.

* Tin nhắn thứ hai: Vào hồi 17 giờ 42 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 04 số Lô: Lô 03, 08, 44 mỗi số 05 điểm; Lô 12 = 100 điểm, tổng 115 điểm Lô, tổng số tiền đánh Lô của khách là 2.300.000 đồng, những người đánh là khách qua đường nên H không biết họ tên địa chỉ cụ thể, H đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ ba: Vào hồi 17 giờ 44 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 02 số Lô và 01 số Đề: Lô 48=700 điểm; Lô 28 = 300 điểm và Đề 01=500.000đồng, tổng số tiền đánh Lô và Đề của khách là 20.500.000đồng, những người đánh là khách qua đường nên H không biết họ tên địa chỉ cụ thể, H đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ tư: Vào hồi 17 giờ 45 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 01 số Đề: Kép với số tiền 1.000.000 đồng của khách qua đường trực tiếp đánh nên H không biết họ tên địa chỉ cụ thể, H đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ năm: Vào hồi 17 giờ 56 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 01 số Đề: Đề 46 với số tiền số tiền 500.000 đồng của khách qua đường trực tiếp đánh nên H không biết họ tên địa chỉ cụ thể, H đã nhận tiền.

Tổng số tiền Trần Thị H đánh “Đề” với Hồ Thị L là 26.500.000 đồng; H đã nhận tiền của khách đánh với mình nhưng chưa thanh toán tiền cho L.

2. Thư ký Bùi Thị P: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 08 phút ngày 08/10/2019 đến 18 giờ 14 phút cùng ngày Bùi Thị P sử dụng điện thoại di động của mình với số thuê bao là 0985141229, vào phần tin nhắn Zalo tên hiển thị (Hoài P) chuyển 03 “Bảng Đề” cho Hồ Thị L qua số Điện thoại 0373107905 với tên hiển thị (Lộc Phát) và Hồ Thị L xác nhận đã tiếp nhận “Bảng Đề” của P, cụ thể như sau:

* Tin nhắn thứ nhất: Vào hồi 18 giờ 08 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 43 số Lô cụ thể như sau: Lô: 48, 84, 44, 88, 11, 41, 88, 29, 92, 22, 01, 10, 02, 20, 23, 32, 19, 39, 93, 77, 57, 75, 67, 34, 43, 76, 55, 88, 48, 84, 26, 62, 68, 86, 17, 71, 08, 80, 84, 22, 38, 83, 36 mỗi số 10 điểm, tổng 430 điểm Lô với tổng số tiền đánh Lô của khách là 8.600.000 đồng (khách qua đường đánh nên P không biết họ tên địa chỉ cụ thể), P đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ hai: Vào hồi 18 giờ 09 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 24 số Lô: Lô 59, 95, 11, 55, 11, 45, 54, 44, 47, 74, 78, 87, 41, 31, 20, 22, 99, 33, 66, 27, 72, 22, 77, 88 mỗi số 10 điểm, tổng 240 điểm Lô với tổng số tiền đánh là 4.800.000 đồng (khách qua đường trực tiếp vào đánh nên P không biết họ tên địa chỉ cụ thể), P đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ ba: Vào hồi 18 giờ 14 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 48 số Lô, 11 số Xiên, cụ thể: Lô 68, 86, 59, 95, 03, 30, 07, 70, 79, 97, 59, 95, 00, 55, 30, 55, 51, 15, 01, 10, 32, 23, 92, 78, 09, 90, 44, 00, 11, 55, 37, 15, 68, 86, 25, 28, 82 mỗi số 10 điểm; Xiên 15-84-78 với số tiền 60.000 đồng, 15-84-87, 07-08-03, 30-70-80, 22-88-00, 11-00-55, 44-84-88, 44-88-48 mỗi số 50.000 đồng, 22-77, 55-99, 33-66 mỗi số 100.000đồng. Lô 99, 98, 89 mỗi số 20 điểm, 84, 48 mỗi số 50 điểm, Lô 01, 10, 80, 08, 88, 22 mỗi số 10 điểm, tổng 590 điểm Lô với số tiền 11.800.000 đồng và 11 số xiên với số tiền 710.000 đồng. Tổng số tiền Lô, Xiên là 12.510.000 đồng (người đánh là khách qua đường nên Bùi Thị P không biết họ tên địa chỉ cụ thể), P đã thu tiền.

Tổng số tiền Bùi Thị P đánh “Đề” với Hồ Thị L là 25.910.000 đồng; P đã nhận tiền của khách nhưng chưa thanh toán cho L.

Ngoài ra vào hồi 18 giờ 15 phút, ngày 08/10/2019 Bùi Thị P chuyển “Bảng Đề” gồm 48 số Lô, 11 số Xiên tự đánh với L, nhưng do chuẩn bị đến giờ mở thưởng nên L trả lời không nhận “Bảng Đề” của P, cụ thể: Lô 05, 50, 80, 08, 09, 90, 22 mỗi số 10 điểm, tổng 70 điểm Lô với số tiền 1.400.000 đồng. Xiên 07-03-50 với số tiền 50.000 đồng. Đề 229, 92, 29, 94, 49, 994, 772, 72, 27, 774, 74, 47, 44, 22, 99, 11, 41, 14 mỗi số 20.000 đồng, 48, 84, 44, 88 mỗi số 50.000 đồng và Đề kép đầu, đít với số tiền 300.000 đồng, tổng 23 số Đề với số tiền 960.000đồng. Tổng số tiền Lô, Đề, Xiên Bùi Thị P tự đánh với Hồ Thị L nhưng L không nhận “Bảng Đề” là 2.300.000 đồng.

3. Thư ký Nguyễn Thị C: Trong khoảng thời gian từ 18 giờ 05 phút ngày 08/10/2019 đến 18 giờ 15 phút 05 giây cùng ngày Nguyễn Thị C sử dụng điện thoại di động của mình số thuê bao là 0369393790, vào phần tin nhắn Zalo tên hiển thị (Nguyễn Thị C) chuyển 04 “Bảng Đề” cho Hồ Thị L qua số Điện thoại 0373107905 với tên hiển thị (Lộc Phát) và L xác nhận đã tiếp nhận “Bảng Đề” của Nguyễn Thị C, cụ thể như sau:

* Tin nhắn thứ nhất: Vào hồi 18 giờ 05 phút, ngày 08/10/2019, chuyển “Bảng Đề” gồm 01 số Lô, 03 số Xiên và 16 số Đề, cụ thể: Lô 11=100 điểm; Xiên 11-82-84 với số tiền 30.000 đồng, 10-27-70 với số tiền 20.000 đồng, 40-84-63 với số tiền 50.000 đồng; Đề 79 với số tiền 550.000 đồng, 60, 63, 64, 10, 82, 05, 35, 85, 84, 80, 08, 98, 57, 58, 75 mỗi số 70.000 đồng. Tổng số tiền Lô, Xiên, Đề là 3.700.000 đồng (khách qua đường đánh nên Nguyễn Thị C không biết họ tên địa chỉ cụ thể), C đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ hai: Vào hồi 18 giờ 11 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 03 số Lô và 21 số Đề cụ thể: Lô 45=50 điểm, 89=30 điểm, 53=20 điểm, tổng 100 điểm Lô với tổng số tiền 2.000.000 đồng; Đề 62 với số tiền 250.000 đồng, 89, 45, 53, 42, 74, 46, 28, 94, 20, 83, 38, 78, 87, 48, 15, 26, 66, 65, 56, 88 mỗi số 30.000 đồng, tổng số tiền đánh Đề là 850.000 đồng. Tổng số tiền Lô, Đề là 2.850.000đồng (khách qua đường đánh nên Nguyễn Thị C không biết họ tên địa chỉ cụ thể), C đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ ba: Vào hồi 18 giờ 15 phút, ngày 08/10/2019, chuyển “Bảng Đề” gồm 26 số Đề cụ thể: Đề 03, 30, 69, 96, 06, 31, 13, 70, 07, 59, 95, 40, 04, 01, 44, 71, 12, 21, 11, 18, 81, 47, 29, 92, 99, 55 mỗi số 50.000 đồng, với tổng số tiền đánh là 1.300.000 đồng (khách qua đường đánh nên Nguyễn Thị C không biết họ tên địa chỉ cụ thể), C đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ tư: Vào hồi 18 giờ 15 phút 05 giây, ngày 08/10/2019, chuyển “Bảng Đề” gồm 02 số Đề cụ thể: Đề 50, 60 mỗi số 50.000 đồng, với tổng số tiền đánh là 100.000 đồng, (khách qua đường đánh nên Nguyễn Thị C không biết họ tên địa chỉ cụ thể), C đã nhận tiền.

Tổng số tiền Nguyễn Thị C đánh “Đề” với Hồ Thị L là 7.950.000 đồng, C đã nhận tiền của khách đánh với mình nhưng chưa thanh toán tiền cho L.

4. Thư ký Trần Thị M: Trong khoảng thời gian từ 17 giờ 48 phút ngày 08/10/2019 đến 18 giờ 11 phút cùng ngày Trần Thị M sử dụng điện thoại di động của mình số thuê bao là 0983374826, vào phần tin nhắn điện thoại chuyển 04 “Bảng Đề” cho Hồ Thị L qua số Điện thoại 0373107905 và L xác nhận đã tiếp nhận “Bảng Đề”, cụ thể như sau:

* Tin nhắn thứ nhất: Vào hồi 17 giờ 48 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 10 số Đề, 03 số Xiên cụ thể: Đề 45 với số tiền 150.000 đồng, 09, 09 mỗi số 5.000 đồng, 28, 21, 22, 23, 24, 25, 20 mỗi số với số tiền 50.000 đồng 08 với số tiền 100.000 đồng; Xiên 28-82, 28-24, 28-33 mỗi số 100.000 đồng, với tổng số tiền đánh Đề và Xiên là 910.000 đồng (khách qua đường đánh nên Trần Thị M không biết họ tên địa chỉ cụ thể), M đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ hai: Vào hồi 18 giờ 06 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 17 số Đề, 01 số Xiên cụ thể như sau: Đề 29, 15, 01, 10, 27, 72, 38, 45, 80. 73, 37 mỗi số 5.000 đồng, 63, 49, 16, 67, 78, 05 mỗi số 2.000 đồng; Xiên 29-72 với số tiền 20.000 đồng, tổng số tiền đánh Đề và Xiên là 87.000đồng (khách qua đường đánh nên Trần Thị M không biết họ tên địa chỉ cụ thể), M đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ ba: Vào hồi 18 giờ 09 phút, ngày 08/10/2019 chuyển “Bảng Đề” gồm 04 số Lô cụ thể: Lô 72, 27, 38, 15 mỗi số 05 điểm, tổng 20 điểm Lô với số tiền 400.000 (khách qua đường đánh nên Trần Thị M không biết họ tên địa chỉ cụ thể), M đã nhận tiền.

* Tin nhắn thứ tư: Vào hồi 18 giờ 10 phút, ngày 08/10/2019, chuyển “Bảng Đề” gồm 02 số Lô cụ thể: Lô 72, 27 mỗi số 10 điểm, tổng 20 điểm Lô với số tiền 400.000 đồng (khách qua đường đánh nên Trần Thị M không biết họ tên địa chỉ cụ thể), M đã nhận tiền.

Tổng số tiền Trần Thị M đánh “Đề” với Hồ Thị L là 1.797.000 đồng; M đã nhận tiền của khách đánh với mình nhưng chưa thanh toán tiền cho L.

5.Thư ký Nguyễn Thị Thanh X: Vào hồi 17 giờ 48 phút ngày 08/10/2019 Nguyễn Thị Thanh X sử dụng điện thoại di động của mình số thuê bao 0763103881, vào phần tin nhắn Zalo tên hiển thị (Nguyen Xuan) chuyển 01 “Bảng Đề” tự đánh cho Hồ Thị L, qua số Điện thoại 0373107905 tên hiển thị (Lộc Phát) và L xác nhận là đã tiếp nhận “Bảng Đề”, cụ thể: Lô: 00 = 20 điểm, 77 = 15 điểm, 47, 74 mỗi số 03 điểm, 06, 60, 07, 87 mỗi số 02 điểm, tổng 49 điểm Lô với số tiền 980.000 đồng; Đề đầu 0 = 30.000 đồng, 07 = 20.000 đồng, 70 = 10.000 đồng, 03 số Đề với số tiền 60.000 đồng. Tổng số tiền Lô, Đề của Nguyễn Thị Thanh X trực tiếp đánh với Hồ Thị L là 1.040.000 đồng, X chưa thanh toán tiền cho L.

Tổng cộng số tiền đánh “Đề” của Hồ Thị L với Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C, Trần Thị M, Nguyễn Thị Thanh X và những người đánh Đề thông qua các thư ký “Đề” là 63.197.000 đồng.

Số tiền các bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc với nhau cụ thể như sau:

1. Hồ Thị L: 63.197.000 đồng, thông qua các thư ký Đề cụ thể:

2. Trần Thị H: Chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với Hồ Thị L với số tiền 26.500.000đồng.

3. Bùi Thị P: Chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với Hồ Thị L với số tiền 25.910.000đồng.

4. Nguyễn Thị C: Chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với Hồ Thị L với số tiền 7.950.000đồng.

5. Trần Thị M: Chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với Hồ Thị L với số tiền 1.797.000đồng.

6. Nguyễn Thị Thanh X: Chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với Hồ Thị L với số tiền 1.040.000đồng.

Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý các vật chứng gồm:

* Vật chứng thu giữ chưa xử lý: 01 điện thoại di động hiệu SamSung J2, gắn sim số 0373107905, thu của Hồ Thị L; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J7, gắn sim số 0857927864, thu của Trần Thị H; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A9, máy không khởi động được nguồn, gắn sim số 0369393790, thu của Nguyễn Thị C; 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J1, bên trong gắn sim số 0763103881, thu của Nguyễn Thị Thanh X; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, gắn sim số 0983374826, thu của Trần Thị M. * Vật chứng không thu giữ được: 01 điện thoại di động của Bùi Thị P sử dụng số sim 0985141229.

Với hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số: 19/CT-VKSCX ngày 13/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Hồ Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 54 BLHS, xử phạt Hồ Thị L mức án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 15.000.000đồng.

- Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 BLHS đối với bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C.

Xử phạt Trần Thị H mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng.

Xử phạt Bùi Thị P mức án từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng.

Xử phạt Nguyễn Thị C mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung từ 10.000.000đồng đến 12.000.000đồng.

- Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước từ các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, gồm: Trần Thị H số tiền 26.500.000đồng; Bùi Thị P số tiền 25.910.000đồng; Nguyễn Thị C số tiền 7.950.000đồng; Trần Thị M số tiền 1.797.000đồng; Nguyễn Thị Thanh X số tiền 1.040.000đồng.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung quỹ nhà nước điện thoại di động thu của Hồ Thị L, Trần Thị H, Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị M.

Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại thu của Hồ Thị L, Trần Thị H, Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị M.

Tịch thu tiêu hủy điện thoại di động, gắn sim số 0369393790 thu của Nguyễn Thị C (đã bị hỏng, không còn giá trị sử dụng).

Ngoài ra, còn buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị L, Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết của Nhà nước, Hồ Thị L đã đứng ra làm chủ “Đề” để trực tiếp đánh Đề với những người đánh Đề và thông qua các thư ký ghi Đề cho những người đánh Đề, với tỷ lệ ăn thua từ 1/3,5 lần đến 1/350 lần, tùy theo việc đánh Lô, Đề, Ba càng hoặc Xiên. Ngày 08/10/2019, L tiếp nhận các “Bảng Đề” từ thư ký bằng tin nhắn điện thoại di động, với tổng số tiền là 63.197.000 đồng, trong đó: Nhận bảng đề từ Trần Thị H, với số tiền 26.500.000đồng; Nhận bảng đề từ Bùi Thị P với số tiền 25.910.000đồng; Nhận bảng đề từ Nguyễn Thị C với số tiền 7.950.000đồng; Nhận bảng đề từ Trần Thị M với số tiền 1.797.000đồng; Nhận bảng đề do Nguyễn Thị Thanh X trực tiếp đánh với số tiền 1.040.000 đồng. Trong khi chưa có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 08/10/2019 thì bị Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên bắt giữ Hồ Thị L về hành vi đánh bạc.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Hồ Thị L, Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại Điểm i Khoản 1 Điều 51 BLHS; ngày 10/4/2020 Công an huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh có văn bản xác nhận bị cáo Hồ Thị L tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm và đề nghị Tòa án xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm t Khoản 1 Điều 51 BLHS (tích cực giúp đỡ Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên phá thành công vụ án “Đánh bạc” do Thái Văn Lý cầm đầu) nên Hồ Thị L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm t Khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hồ Thị L có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; bị cáo Nguyễn Thị C có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, nhì và chồng được tặng thưởng Huân chương chiến công, huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa P xác nhận và đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa P; bị cáo Bùi Thị P có bố là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa P xác nhận; bị cáo Trần Thị H có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa P xác nhận. Vì vậy, các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét một cách đầy đủ toàn diện về tính chất hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo; đối chiếu với khung hình phạt của điều luật, HĐXX xét thấy đề nghị về mức án của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là phù hợp.

Đối với Hồ Thị L, giữ vai trò chính trong vụ án, khởi xướng, đặt vấn đề với các bị cáo khác tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc lớn nhất nên phải chịu mức án cao nhất và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cần áp dụng Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Đối với Trần Thị H, Bùi Thị P tham gia với vai trò giúp sức, thực hành, chịu trách nhiệm với số tiền đánh bạc lần lượt là 26.500.000đồng và 25.910.000đồng. Tuy nhiên, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cần cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội để sửa chữa sai lầm, hòa nhập với cộng đồng xã hội, cải tạo tại địa P.

Đối với Nguyễn Thị C, tham gia với vai trò giúp sức, thực hành, chịu trách nhiệm với số tiền đánh bạc 7.950.000đồng. Mặc dù, trước đó bị cáo có nhân thân đã bị xử phạt hành chính, tuy nhiên hành vi này đã xảy ra từ lâu (năm 2008); phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cần cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội để sửa chữa sai lầm, hòa nhập với cộng đồng xã hội, cải tạo tại địa P.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 3 Điều 321 BLHS, phạt bổ sung đối với Hồ Thị L, Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C mỗi bị cáo mức tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với điện thoại di động thu của Hồ Thị L, Trần Thị H, Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị M, đây là vật chứng liên quan đến việc các bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy sim điện thoại thu của Hồ Thị L, Trần Thị H, Nguyễn Thị Thanh X, Trần Thị M.

Đối với chiếc điện thoại di động gắn sim số 0369393790, thu của Nguyễn Thị C, liên quan đến việc phạm tội nhưng đã bị hỏng, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về biện pháp tư pháp: Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền sử dụng vào việc đánh bạc từ các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể: Trần Thị H số tiền 26.500.000đồng; Bùi Thị P số tiền 25.910.000đồng; Nguyễn Thị C số tiền 7.950.000đồng; Trần Thị M số tiền 1.797.000đồng; Nguyễn Thị Thanh X số tiền 1.040.000đồng.

[8] Đối với Trần Thị M và Nguyễn Thị Thanh X là thư ký Đề và người đánh Đề trực tiếp với Hồ Thị L nhưng số tiền đánh bạc đều dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, không xử lý hình sự mà chỉ xử lý hành chính đối với các đối tượng là có căn cứ.

Đối với những người trực tiếp đánh Đề với các thư ký ghi Đề (Khách qua đường), do khi đánh Đề các thư ký không ghi họ tên, địa chỉ cụ thể của họ nên không có cơ sở xác định.

Đối với số tiền 2.300.000đồng của Bùi Thị P nhắn tin trực tiếp đánh Đề với Hồ Thị L nhưng do quá giờ nhận “Bảng Đề” nên L không nhận. Vì vậy, số tiền này không tính vào tổng số tiền đánh bạc của P.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L, Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Hồ Thị L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Phạt bổ sung bằng tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C.

+ Xử phạt Trần Thị H 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

+ Xử phạt Bùi Thị P 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

+ Xử phạt Nguyễn Thị C 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng).

Giao bị cáo Trần Thị H và Bùi Thị P cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Thị C cho Ủy ban nhân dân xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách .

Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 26.500.000đồng (Hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) từ bị cáo Trần Thị H.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 25.910.000đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười nghìn đồng) từ bị cáo Bùi Thị P.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 7.950.000đồng (Bảy triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) từ bị cáo Nguyễn Thị C.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.797.000đồng (Một triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn đồng) từ Trần Thị M, sinh năm 1963; trú tại: Thôn 6, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

- Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.040.000đồng (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) từ Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1970; trú tại: Thôn Tiến H, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước:

+ 01 điện thoại di động hiệu SamSung J2 màu đồng, số IMEI 1: 355213093470193/01; số IMEI 2: 355214093470191/01, thu của Hồ Thị L.

+ 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J7 màu đồng, số IMEI 1:3532306072089934; số IMEI 2: 35523707208932, thu của Trần Thị H.

+ 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy J1 màu vàng, số IMEI 1: 353120087134135; số IMEI 2: 3353121087134133, thu của Nguyễn Thị Thanh X.

+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 352884100477802; Số IMEI 2: 352884100977801, thu của Trần Thị M.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 sim số 0373107905, thu của Hồ Thị L; 01 sim số 0857927864, thu của Trần Thị H; 01 sim số 0631003881, thu của Nguyễn Thị Thanh X; 01 sim số 0983374826, thu của Trần Thị M.

+ 01 chiếc điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A9 màu đồng, máy không khởi động được nguồn (đã hỏng), gắn sim số 0369393790, thu của Nguyễn Thị C

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/3/2020 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh)

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc Hồ Thị L, Trần Thị H, Bùi Thị P, Nguyễn Thị C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2020/HS-ST ngày 28/05/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:20/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về