Bản án 20/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 20/2019/HS-ST NGÀY 26/02/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2019/TLST-HS ngày 01/02/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HS ngày 12/02/2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ dân phố H, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng H và bà Bùi Thị B; có vợ là Chu Thị Hồng N, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt, tạm giữ ngày 15/11/2018, tạm giam từ ngày 21/11/2018 đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Chu Thị Hồng N, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Toàn T, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường L, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2. Anh Phan Văn B, sinh năm 1986; địa chỉ: Xóm K, xã T, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/11/2018, Nguyễn Văn T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người tên Đức (không biết rõ địa chỉ, lai lịch) gọi vào điện thoại của T nói:“Anh đang ở đâu, để cho em một cái”, T trả lời: “Tao đang ở nhà”, Đức hẹn T: “Em lên Nhà thi đấu đa năng, rồi em đóng lãi cho anh”, T hiểu ý Đức nói muốn mua ma túy và hẹn đến Nhà thi đấu đa năng tỉnh Hà Nam để nhận ma túy nên đồng ý và lấy mang theo 03 túi nilon mầu trắng, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng rồi điều khiển xe môtô BKS: 90B1-565... đến Nhà thi đấu đa năng tỉnh Hà Nam thuộc khu vực tổ dân phố Quỳnh Chân, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam để gặp Đức. Đến nơi, T gọi cho Đức hỏi: “Đang ở đâu” thì Đức trả lời:“Đang đứng ở gần cổng vào Nhà thi đấu”. T điều khiển xe môtô đến cổng Nhà thi đấu thì gặp Đức đang đứng cạnh chiếc xe Honda Wave (không rõ biển kiểm soát), Đức lấy ra đưa cho T số tiền 500.000 đồng, T cầm tiền của Đức đút vào túi quần phía trước đang mặc rồi lấy ra 01 túi nilon mầu trắng dán vào mặt nạ xe Honda Wave của Đức. Ngay lúc đó lực lượng Công an phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý đi tuần tra, phát hiện nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra. Thấy Công an đến, Đức liền bóc gói ma túy ra khỏi xe môtô, cầm vứt xuống đất cạnh vị trí lốp xe môtô của T rồi phóng xe bỏ chạy thoát, T cũng bỏ xe môtô của mình bỏ chạy được khoảng 50 mét thì bị bắt giữ. Tại chỗ, lực lượng Công an thu giữ trong người T 02 túi nilon màu trắng và 01 túi nilon màu trắng khác trên nền đường cạnh lốp xe của T, tất cả bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được T khai nhận đó đều là ma túy đá, mục đích cất giấu để bán cho người nghiện ma túy kiếm lời.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

- Thu giữ tại chỗ của Nguyễn Văn Tuấn gồm: 01 xe môtô BKS: 90B1-565...; 01 túi nilon mầu trắng cạnh lốp xe môtô BKS: 90B1-565... do người thanh niên tên Đức vứt lại được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 02 túi nilon mầu trắng thu giữ trên người T được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT02; số tiền 500.000 đồng trong túi quần của T; 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 5.475.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5.

- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T thu giữ: 03 túi nilon mầu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu xanh niêm phong trong phong bì ký hiệu KT01; 01 bình thủy tinh cao khoảng 15cm, miệng bình có một ống coóng thủy tinh, bầu coóng hình tròn, miệng hở, một đầu gắn 01 ống hút nhựa dài khoảng 30cm.

Tại bản Kết luận giám định số 177/PC09-MT ngày 21/11/2018, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,250 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,295 gam, loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu KT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,568 gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 26/CT-VKSTP ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Nguyễn Văn T về tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt Nguyễn Văn T từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

- Phạt tiền bị cáo từ 05 đến 10 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ của vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 15/11/2018, tại khu vực tổ dân phố Quỳnh Chân, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn T bị lực lượng Công an phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý bắt giữ quả tang khi đang thực hiện hành vi bán trái phép 0,250 gam Methamphetamine cho đối tượng tên là Đức lấy 500.000 đồng, khám xét người và nơi ở của Nguyễn Văn T, cơ quan điều tra thu giữ thêm 0,863 gam Methamphetamine T cất giấu mục đích để sử dụng và bán cho người nghiện ma túy kiếm lời, thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt do chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự pháp luật quy định.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động mua, bán, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi, nhằm kiếm lời bất chính. Do vậy việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo bằng hình thức phạt tiền là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục chung.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và cất giữ bình thủy tinh cao khoảng 15cm, miệng bình có một ống coóng thủy tinh, bầu coóng hình tròn, gắn 01 ống hút nhựa dài khoảng 30cm để sử dụng ma túy của Nguyễn Văn T, Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.

[7] Đối với người đàn ông tên Đức đã mua ma túy của bị cáo và bỏ chạy thoát khi bị kiểm tra, do Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân, địa chỉ của người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.

[8] Đối với người đàn ông tên Nam ở khu vực phố Hàng Mã, thành phố Hà Nội theo lời khai của bị cáo là người đã bán trái phép số ma túy bị thu giữ cho bị cáo, do Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân, địa chỉ của người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý.

[9] Về vật chứng và xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, BKS: 90B1-565... thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra đã xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân của bị cáo và chị Chu Thị Hồng N (vợ bị cáo). Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/2019 ngày 11/01/2019, Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý đã xác định chiếc xe có giá trị là 3.000.000 đồng. Do bị cáo đã sử dụng tài sản này làm phương tiện để phạm tội nên nay sẽ xem xét tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước phần tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo là ½ giá trị chiếc xe (thời điểm định giá là 1.500.000 đồng); phần giá trị còn lại của tài sản này sẽ trả lại cho chị N. Tại phiên tòa, chị N đề nghị được thanh toán đối trừ ½ giá trị của chiếc xe tại thời điểm định giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước để xin nhận lại chiếc xe, xét thấy đây là nguyện vọng chính đáng, phù hợp pháp luật nên sẽ được xem xét, chấp nhận.

+ Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo là do phạm tội mà có và chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J5 là tài sản của bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nay sẽ tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

+ Đối với số tiền 5.475.000 đồng và 01 ví giả da thu giữ của bị cáo: Quá trình điều tra đã xác định trong đó có 4.000.000 đồng là tài sản hợp pháp của chị Chu Thị Hồng N (vợ bị cáo); 1.475.000 đồng và chiếc ví giả da là tài sản hợp pháp của bị cáo, do những tài sản này không liên quan đến tội phạm nên sẽ xem xét trả lại cho chị N và bị cáo.

+ Đối với toàn bộ số Methamphetamine hoàn trả sau giám định cùng bao gói; 01 bình thủy tinh trên miệng bình có gắn ống coóng thủy tinh, bầu coóng gắn ống hút nhựa là vật cấm tàng trữ nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo 42 (bốn hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/11/2018.

- Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Điều 35, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn T 5.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GALAXY J5, đã cũ, có số IMEI1: 352700074107342/01, số IMEI2: 352701074107340/01, máy có hai số điện thoại, số SIM1: 0913466744, số SIM2: 0989676296; số tiền 500.000 đồng và ½ giá trị chiếc xe máy biển kiểm soát 90B1-565.69, màu trắng, số khung RLHHC 1215DYY072955, số máy HC12E- 5072856 (tại thời điểm định giá là 1.500.000 đồng).

- Trả lại cho chị Chu Thị Hồng N số tiền 4.000.000 đồng và ½ giá trị chiếc xe máy biển kiểm soát 90B1-565…, màu trắng, số khung RLHHC 1215DYY072955, số máy HC12E-5072856. Chấp nhận đề nghị của chị N, trả lại cho chị chiếc xe máy trên sau khi đã thanh toán đối trừ ½ giá trị của chiếc xe tại thời điểm định giá thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo T bị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước là 1.500.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01(một) ví giả da màu đen và số tiền 1.475.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu, tiêu hủy 03 (ba) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu vật hoàn trả QT01, QT02, KT01”, số 177/PC09-MT có chữ ký, dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam và 01 (một) bình thủy tinh cao khoảng 15cm, miệng bình có một ống coóng thủy tinh, bầu coóng hình tròn kích thước khoảng 0,19cm, miệng hở, một đầu gắn một ống hút nhựa dài khoảng 30cm.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 01/02/2019 và Ủy nhiệm chi số 09 ngày 19/02/2019.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HS-ST ngày 26/02/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:20/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về