Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 20/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 22 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 983/2018/TLST- HNGĐ ngày 04/12/2018, về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn : Chị Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989 (có mặt) Địa chỉ: Ấp Quyết Chiến, xã A T A, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu. Bị đơn: Anh Trịnh Ngọc T, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Đường Lâm Thành Mậu, khóm 4, phường 4, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Chị Nguyễn Ngọc H trình bày: Chị H và anh T kết hôn từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố C. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, thường hay cãi vã nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T.

Về  con  chung:  Có  một  người  con  chung  tên  Trịnh  Quy  H,  sinh  ngày 03/01/2013, hiện đang sống với chị H. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Chị H xác định không có. Về nợ chung: Chị H khai không có nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 [1] Về phần hôn nhân: Chị H và anh T kết hôn từ năm 2012 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố C đúng theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do có phát sinh mâu thuẩn trong cuộc sống vợ chồng nên chị H và anh T không còn sống chung nhà từ năm 2013 đến nay. Chị H xác định mâu thuẫn của chị H và anh T phát sinh ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được nên chị H yêu cầu ly hôn với anh T. Riêng anh T không có văn bản hay ý kiến gì thể hiện quan điểm của anh T trước yêu cầu của chị H.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân giữa chị H và anh T đã mâu thuẫn là thực tế và anh chị đã không sống chung nhà từ năm 2013 đến nay. Xét thấy hôn nhân của anh, chị đã mâu thuẫn kéo dài, cả chị H và anh T đều không có hướng khắc phục, Tòa án đã tạo điều kiện để anh chị hòa giải đoàn tụ nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không thể hàn gắn được mối quan hệ vợ chồng của anh chị.

Xét mâu thuẫn vợ chồng anh chị ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp.

[2] Về con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có một người con chung tên Trịnh Quy H, sinh ngày 03/01/2013, hiện đang sống với chị H. Chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng. Anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị H. Xét thấy con chung của anh chị còn nhỏ, cần đượcsự chăm sóc của mẹ nên  chấp nhận yêu cầu của chị H là phù hợp.

Người không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: Chị H xác định không có.

[4] Về nợ chung: Chị H xác định không nợ ai nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phíTòa án.

 Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Ngọc H về việc xin ly hôn anh Trịnh Ngọc T.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Quy H, sinh ngày 03/01/2013 (hiện đang sống với chị H) cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, không đặc ra việc cấp dưỡng nuôi con

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, chị Nguyễn Ngọc H phải nộp, ngày 29/11/2018 chị H có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0001630 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu án phí.

Các trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ được giao nhận hoặc bản án được niêm yết công khai.


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:20/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:22/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về