Bản án 20/2018/HSST ngày 25/01/2018 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN  QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 20/2018/HSST NGÀY 25/01/2018 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 431/2017/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 417/2017/QĐXXST-HS ngày 29/11/2017 đối với bị cáo:

Lê Đình T, sinh năm 1989 tại tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn 3, xã C, huyện C, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Lê Đình T và bà Lê Thị Th; Bị cáo có: Tiền án: 04; Tiền sự: Không; Nhân thân:

- Bản án số 339/2008/HSST ngày 13/11/2008, Tòa án nhân dân huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2007. Chấp hành xong hình phạt ngày 06/01/2009. (đã được xóa án tích).

- Bản án số 105/2011/HSST ngày 07/04/2011, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 08/12/2010. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/02/2013 (chưa được xóa án tích).

- Bản án số 192/2014/HSST ngày 10/09/2014, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 07/05/2014. Chấp hành xong hình phạt ngày 07/08/2016 (chưa được xóa án tích).

- Bản án số 209/2017/HSST ngày 17/11/2017, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày 13/07/2017 (án đã có hiệu lực pháp luật); Có mặt.

* Bị hại: 1/ Anh Hoàng Văn K, sinh ngày 14/05/1996 (vắng mặt)

ĐKHKTT: Thôn M, xã T, huyện B, tỉnh H

Trú tại: Số 924/115/15A đường N, phường T, quận H, thành phố H

2/ Anh Phan Văn K, sinh ngày 11/08/1997 (có mặt)

ĐKHKTT: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh N

Trú tại: Số 8 ngõ 313 đường N, phường T, quận H, thành phố H

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18h00’ ngày 02/05/2017, bị cáo Lê Đình T đi lang thang đến quán game H số 462 đường V, phường V, quận H, thành phố H để chơi game. Đến khoảng 21h00’ cùng ngày, bị cáo đi ra sân quán game H thì phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS: 23D1- 213.43, số máy 1074093, số khung 061349 của anh Hoàng Văn K dựng gần cửa cổng, không khóa cổ, khóa càng. Anh K đang chơi game không để ý nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy. Bị cáo lại gần dùng chìa khóa bị cáo mang theo, cắm vào ổ khóa điện xe máy Dream, lắc lắc mấy cái thì mở được ổ khóa điện, bị cáo gạt chân chống xe lên dắt xe máy ra thì anh Phan Văn K là nhân viên của quán game ra mở cửa cổng cho bị cáo. Khi dắt xe máy ra trước cửa quán game H số nhà 462 đường V bị cáo hỏi anh K “Cho anh mượn điện thoại để gọi”, vì lúc trước bị cáo đã mượn điện thoại của anh K hai lần. Anh K đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3 màu đen của mình cho bị cáo mượn, bị cáo bấm số điện thoại đưa lên tai để gọi. Nhân lúc anh K quay người lại để quan sát người chơi game trong quán, bị cáo lợi dụng anh K sơ hở, lên xe cầm điện thoại phóng xe bỏ chạy. Ngày 03/05/2017 tại đầu ngõ 126 đường V, quận H, thành phố H bị cáo đã bán cho một thanh niên không quen biết chiếc xe máy Dream và điện thoại di động Sony Z3 chiếm đoạt được với tổng số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại anh Hoàng Văn K khai: Khoảng 20h45’ ngày 02/05/2017, anh đi xe máy Honda Dream BKS 23D1-21343, SM 1074093, SK 061349 đến quán Game H tại địa chỉ 462 đường V chơi game. Anh chơi game được 30 phút thì chủ quán Game có bảo vừa rồi có đối tượng đi xe Honda Dream biển 23D1 đuôi số 43 đã cướp điện thoại của nhân viên trông quán tên K và nhảy lên xe bỏ chạy. Anh ra vị trí để xe máy kiểm tra xem xe máy còn không, khi ra anh phát hiện chiếc xe máy của anh đã bị mất trộm. Ngày 03/5/2017 anh có đơn trình báo đến công an phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai về việc bị mất chiếc xe máy Honda Dream BKS 23D1-21343. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc xe máy Honda Dream. Anh yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 14.000.000đồng bằng giá trị chiếc xe máy Honda Dream bị mất.

Bị hại anh Phan Văn K khai: Khoảng 20h00 ngày 02/05/2017 khi anh đang trông quán Game tại địa chỉ 462 đường V thì có một nam thanh niên đang ngồi chơi game tại đây nói anh cho nam thanh niên mượn điện thoại để gọi cho ai đó nhưng đầu bên kia không có người trả lời. Sau đó nam thanh niên trả điện thoại cho anh và nói “nếu có ai gọi lại thì đưa máy cho anh ngay nhé”. Khoảng 10 phút sau có một số điện thoại gọi đến hỏi “ai đấy”, anh có nói “lúc nãy có người mượn điện thoại của tôi gọi giờ anh ấy đi ra ngoài rồi”. Một lúc sau nam thanh niên đi ra ngoài ngồi lên xe máy của khách trong quán game và lại mượn điện thoại của anh, đến khoảng 21h00’ khi anh ra đóng cửa quán game thì nam thanh niên trả lại điện thoại và đi vào quán lấy chiếc túi đi ra. Khi nam thanh niên đi ra anh có hỏi “anh có đi xe không” nam thanh niên nói “có”. Sau đó nam thanh niên đi đến chỗ để chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, anh thấy đèn báo đồng hồ xe đã bật sáng và nam thanh niên đi xe ra cửa. Khi đi ra khỏi quán nam thanh niên lại mượn điện thoại của anh và bấm số gọi đưa lên tai nghe lúc này anh có quay người lại để quan sát người trong quán chơi game thì nam thanh niên rồ ga phóng xe đi mất. Anh đuổi theo hô “trả điện thoại đây” nhưng không kịp. Ngày 03/5/2017, anh có đơn trình báo đến công an phường Vĩnh Hưng về việc bị cướp chiếc điện thoại Sony Z3. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại Sony Z3, anh yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.200.000 đồng.

Ngày 30/05/2017, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai ra Quyết định trưng cầu định giá đối với 01 xe máy Honda Dream màu nâu, BKS 23D1- 21343, SM 1074093, SK 061349 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3 màu đen. Ngày 31/05/2017, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàng Mai có công văn trả lời do không có đủ căn cứ kiểm định, xác định được giá trị, chất lượng còn lại của tài sản nên không tiến hành định giá được. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành khảo sát giá trị hiện tại ngoài thị trường chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sony Z3 là 1.200.000 đồng. Chiếc xe máy Honda Dream màu nâu có giá trị hiện tại ngoài thị trường là 14.000.000 đồng.

Ngày 26/6/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Lê Đình T về hành vi Trộm cắp tài sản và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam. Ngày 28/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, đối với Lê Đình T về hành vi Cướp giật tài sản.

Quá trình điều tra, xác minh làm rõ ngày 12/07/2017, bị cáo Lê Đình T có hành vi trộm cắp tài sản tại phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội và bị tổ công tác 141 công an thành phố Hà Nội bắt. Ngày 21/07/2017, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định khởi tố vụ án; Quyết định khởi tố bị can và tạm giam bị cáo Lê Đình T về tội Trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Bắc Từ Liêm đã chuyển hồ sơ vụ án đến cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Cầu Giấy giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 17/11/2017, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã xét xử Lê Đình T và tuyên bản án số 209/2017/HSST xử phạt bị cáo Lê Đình T 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (án đã có hiệu lực pháp luật).

Đối với chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, BKS 23D1-21343 và chiếc điện thoại di động Sony Z3, cơ quan điều tra đã thông báo và đăng báo truy tìm vật chứng nhưng không thu hồi được. Ngày 26/10/2017, cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy Honda Dream màu nâu BKS 23D1-21343; 01 chiếc điện thoại Sony Z3 và nam thanh niên mua tài sản trộm cắp để khi làm rõ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 391/CT-VKS-HS ngày 14/11/2017 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 23D1-2143 và Cướp giật 01 điện thoại di động Sony Z3 vào ngày 02/05/2017 tại quán game H số 462 đường V, phường V, quận H, thành phố H là phạm tội. Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chấp nhận bồi thường trả cho anh Hoàng Văn K số tiền 14.000.000đồng và bồi thường trả cho anh Phan Văn K số tiền 1.200.000 đồng, bằng giá trị tài sản không thu hồi được.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 38, Điều 48, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 40 (bốn mươi) tháng tù của bản án 209/2017/HSST ngày 17/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Lê Đình T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 09 năm 10 tháng tù đến 10 năm 10 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hoàng Văn K số tiền 14.000.000 đồng và Phan Văn K số tiền 1.200.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị hại anh Hoàng Văn K có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 02/05/2017 tại quán Game H số 462 đường V, quận H, thành phố H, bị cáo Lê Đình T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 23D1-21343 trị giá 14.000.000 đồng của anh Hoàng Văn K. Sau đó, bị cáo tiếp tục mượn chiếc điện thoại Sony Z3 trị giá 1.200.000 đồng của anh Phan Văn K nhân viên quán Game H và lợi dụng lúc anh K quay lại quan sát người trong quán Game bị cáo đã bất ngờ, công khai nhanh chóng phóng xe bỏ chạy. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 15.200.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” được quy định tại Điều 138, Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999.

Nhân thân bị cáo T đã có 04 tiền án vào các năm 2008, 2011, 2014 và 2017, trong đó 02 tiền án năm 2011 và 2014 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa tích. Vì vậy lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Về nhân thân: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận thấy: Bị cáo đã có 04 tiền án, trong đó có 02 tiền án chưa được xóa án tích và 01 tiền án đang chấp hành hình phạt tù. Điều đó thể hiện bị cáo có nhân thân rất xấu, liên tục phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Do bị cáo bị xét xử cùng một lần, một người phạm nhiều tội nên HĐXX áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.

Bản án số 209/2017/HSST ngày 17/11/2017, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi phạm tội xảy ra sau nhưng xét xử trước nên không xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Do bản án đã có hiệu lực pháp luật nên tổng hợp hình phạt của nhiều bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 136, Điều 138 của bộ luật Hình sự 1999 đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Hoàng Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.000.000 đồng bằng giá trị chiếc xe máy Honda Dream màu nâu, BKS 23D1- 2143 không thu hồi được. Anh Phan Văn K yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.200.000 đồng bằng giá trị chiếc điện thoại Sony Z3 không thu hồi được.

Tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường anh K số tiền 14.000.000 đồng, anh K số tiền 1.200.000 đồng. Xét thấy yêu cầu bồi thường của anh Hoàng Văn K, anh Phan Văn K là có căn cứ đúng quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hoàng Văn K số tiền 14.000.000 đồng, bồi thường cho anh Phan Văn K số tiền 1.200.000 đồng.

[9]. Về vật chứng: 01 xe máy Honda Dream màu nâu, BKS 23D1-21343; 01 chiếc điện thoại Sony Z3 không thu hồi được. Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận Hoàng Mai đã ra quyết định tách tài liệu liên quan để khi làm rõ xử lý sau nên Tòa án không xem xét trong vụ án này.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước ngày 01/01/2018, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[10]. Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 760.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Đình T 03 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 03 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 06 năm 06 tháng tù

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015. Tổng hợp với hình phạt 40 (bốn mươi) tháng tù của bản án 209/2017/HSST ngày 17/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/07/2017.

Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Lê Đình T phải bồi thường cho anh Hoàng Văn K số tiền 14.000.000đ (Mười bốn triệu đồng)

- Buộc bị cáo Lê Đình T phải bồi thường cho anh Phan Văn K số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 760.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2018/HSST ngày 25/01/2018 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:20/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về