Bản án 20/2018/HSST ngày 09/02/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 20/2018/HSST NGÀY 09/02/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Long Châu, Toà án nhân dân huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2018/TLST-HS, ngày 26 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Hoàng Thị Ph, sinh năm 1993.

Nơi cư trú: Tổ 2, khu A, thị trấn L, huyện Ý , tỉnh N; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ nhất; chồng là Trương Duy Đ, sinh năm 1987; có 2 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị hiện tại ngoại (có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h, ngày 27/9/2017 tại nhà bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 ở thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh B. Công an huyện Yên Phong bắt quả tang Hoàng Thị Ph đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nghiêm Văn D, sinh năm 1993, trú tại: Thôn Ph, thị trấn Ch, huyện Y, tỉnh B và Nguyễn Văn T, sinh năm 1991, trú tại: Thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh B. Thu giữ:

+ 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng tại lòng bàn tay phải của Nghiêm Văn D, D khai đó là ma túy vừa mua của Ph, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M.

+ 1.000.000đ gồm 02 tờ mệnh giá 500.000đ tại mặt bàn trang điểm trong phòng ngủ tầng 1, Ph khai đó là tiền vừa bán ma túy cho D.

+ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 08 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa 23 viên nén hình tròn màu đỏ tại lòng bàn tay phải của Ph, được niêm phong vào phong bì thư ký hiệu M1.

Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Hoàng Thị Ph, đồng thời niêm phong vật chứng có chữ ký của Ph, của những người liên quan.

Cùng ngày Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ph tại nhà bà Nguyễn Thị T tại thôn Y, xã Y, huyện Y. Thu giữ:

+ 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng và nhiều túi nilon nhỏ màu trắng tại bàn trang điểm trong phòng ngủ tầng một, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.

+ 04 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 60 viên nén hình tròn màu đỏ dưới đệm trên mặt tủ trong phòng ngủ tầng hai, được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M3.

Công an đã lập biên bản niêm phong rồi gửi đi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số: 1111/KLGĐ-PC54, ngày 27/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

1. Trong phong bì thư ký hiệu M:

+ Các hạt tinh thể màu trắng có trọng lượng 0,1686 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

+ 05 viên nén hình tròn màu đỏ có trọng lượng 0,5037 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

2. Trong phong bì thư ký hiệu M1:

+ Các hạt tinh thể màu trắng bên trong 08 túi nilon màu trắng có trọng lượng 3,4502 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

+ 23 viên nén hình tròn màu đỏ có trọng lượng 2,2969 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

3. Trong phong bì thư ký hiệu M2:

+ Các hạt tinh thể màu trắng có trọng lượng 0,2678 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

4. Trong phong bì thư ký hiệu M3:

+ Các hạt tinh thể màu trắng bên trong 04 túi nilon màu trắng có trọng lượng 10,5990 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

+ 60 viên nén hình tròn màu đỏ có trọng lượng 5,5388 gam; Là ma túy; Loại ma túy: chất Methamphetamine.

Tại cơ quan điều tra ban đầu bị cáo Hoàng Thị Ph khai nhận: Năm 2014, Ph lấy chồng là Trương Duy Đ sinh năm 1987, trú tại: Khu A, thị trấn L, huyện Ý, tỉnh N và chuyển về quê chồng sinh sống. Ngày 24/9/2017, vợ chồng Ph về nhà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T chơi và ở đó để tìm việc làm.

Khoảng 13h30’, ngày 27/9/2017 khi Ph đang bế con đi bộ tại gần cổng nhà bà Nguyễn Thị T thì nhìn thấy 01 túi nilon màu trắng, mở ra xem thì thấy bên trong có nhiều túi nilon nhỏ bên trong chứa các tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa nhiều viên nén hình tròn màu đỏ. Qua tìm hiểu thì Ph biết đó là ma túy đá và ma túy ngựa. Vì vậy Ph nảy sinh ý định sẽ cất giữ số ma túy này để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 30 phút sau có Nghiêm Văn D và Nguyễn Văn T đến hỏi mua ma túy. Do D trước đã ở trọ tại nhà Ph nên Ph nhìn thấy quen mặt. D bảo Ph: “Để cho anh 500.000đ ma túy đá và 500.000đ ma túy ngựa”. Ph đi vào trong phòng ngủ tầng một lấy ma túy ra đưa cho D 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ. D đưa cho Ph 02 tờ tiền polime, mỗi tờ mệnh giá 500.000 đồng. Ph cầm tiền đi vào phòng tầng một, D và T định đi về thì bị Công an huyện Y kiểm tra bắt quả tang. Ngoài ra Công an còn thu giữ tại lòng bàn tay phải của Ph 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 08 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 23 viên nén hình tròn màu đỏ. Ph khai đây là số ma túy mà Ph nhặt được, sau đó Ph cất giữ nhằm mục đích để bán kiếm lời.

Đối với số ma túy mà Cơ quan điều tra thu giữ tại phòng ngủ tầng một và tại phòng ngủ tầng hai thì Phương không biết là của ai.

Bản cáo trạng số: 04/CTr-VKS, ngày 24/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Hoàng Thị Ph về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1, điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Hoàng Thị Ph về tội mua bán trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 5 điều 194; điều 33; điểm p, khoản 1, điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt Phương từ 26 đến 28 tháng tù. Phạt bị cáo 5.000.000đ sung quỹ Nhà nước.

Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật sau giám định, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người mua ma túy là Nghiêm Văn D và Nguyễn Văn T trình bày: Khoảng 13h30’ , ngày 27/9/2017 D và T đi xe ôm của người không quen biết đến nhà bà Nguyễn Thị T mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến cổng nhà bà T thì T đưa cho D 1.000.000đ gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000đ để mua ma túy. D gọi: “cô T ơi” thì thấy Ph đi ra, D nói với Ph: “để cho 5 nọ, 5 kia” (ý là 500.000đ ma túy đá và 500.000đ ma túy ngựa). D đưa cho Ph 1.000.000đ, Ph cầm tiền đi vào trong nhà. Một lúc sau Ph đi ra đưa cho D 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 5 viên nén hình tròn màu đỏ. D cầm ma túy ở tay phải, đúng lúc này thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người mua ma túy, bản kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14h, ngày 27/9/2017 Hoàng Thị Ph đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nghiêm Văn D và Nguyễn Văn T 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 05 viên nén hình tròn màu đỏ, tổng trọng lượng 0,6723 gam Methamphetamine. Ngoài ra còn thu trên tay Ph 08 túi ni lông màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 23 viên nén hình tròn màu đỏ, tổng trọng lượng 5,7471 gam Methamphetamine nhằm mục đích bán kiếm lời. Căn cứ Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-CA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ tư pháp thì hành vi của Hoàng Thị Ph đã phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý, phạm vào khoản 1, điều 194 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố là đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma tuý cũng là nguyên nhân phát triển các tội phạm hình sự khác. Việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân. Bởi vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét thấy, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, do vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo bán ma túy mục đích để kiếm lời, do vậy cần phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Về vật chứng: Xét thấy số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với số tiền 1.000.000đ là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về nguồn gốc số ma túy: Ph khai là nhặt được tại trước cổng nhà bà Nguyễn Thị T. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

Đối với số ma túy thu giữ tại nhà bà Nguyễn Thị T: Quá trình điều tra xác định tại nhà bà T chỉ có bà T, Ph, chồng phương là anh Trương Duy Đ, con trai bà T là Hoàng Văn Đ, sinh năm 1995. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai của bà T và anh Đ. Tuy nhiên bà T và anh Đ đều không biết số ma túy đó là của ai. Bà T khai ngoài những người trong nhà thì gia đình bà còn có 06 phòng trọ cho công nhân thuê, bạn bè của các con bà cũng ra vào thường xuyên nên bà không biết số ma túy đó là của ai. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thì tại nhà bà T các phòng trọ đều không có người ở. Xác minh tại Công an xã Y thì thấy những người thuê trọ tại nhà bà T không đăng ký tạm trú. Đối với Hoàng Văn Đ là con trai bà T. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhưng Đ không đến làm việc, xác minh thì Đ không có mặt tại địa phương. Vì vậy đối với tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 25/12/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra. Ngày 28/12/2017 do thời hạn điều tra vụ án đã hết mà chưa xác định được bị can nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự.

Đối với Nghiêm Văn D và Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,6723 gam chất Methamphetamine, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Sau khi lấy lời khai, lợi dụng sơ hở D và T đã bỏ trốn. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh thì cả D và T đều không có hộ khẩu thường trú tại địa phương như khai báo ban đầu. Vì vậy chưa có căn cứ để xử lý, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, khi nào xác minh được danh tính, địa chỉ của D và T sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Ph phạm tội "mua bán trái phép chất ma tuý".

Áp dụng khoản 1, 5 điều 194; điều 33; điểm p, khoản 1, điều 46; điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a, khoản 2, điều 106; điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử phạt: Hoàng Thị Ph 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. Phạt bị cáo 5.000.000đ.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000đ.

Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong dán kín, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


68
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về