Bản án 20/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 20/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/02/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1027/2017/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2017 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2017/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Đàm Quang H - sinh năm 1985; địa chỉ: Khu 3A, phường A, thị xã Y, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Dương Thị Ng - sinh năm 1984; địa chỉ số 791/12/4 Bình đường M, phường L, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vắng mặt lần 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 18 tháng 9 năm 2017 cùng các lời khai tiếp theo anh Đàm Quang H trình bày:

Anh Đàm Quang H và chị Dương Thị Ng sống chung từ năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, Huyện Y, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn anh H và chị Ng sống tự lập tại thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, do quan điểm sống, cách sống của hai người không cùng chung chí hướng. Anh H là kỹ sư cơ khí thường đi làm theo dự án về việc quan tâm, chăm sóc gia đình và vợ con không có nên khi anh H đi làm về thì chị Ng chì chiết và lằng nhằng. Từ năm 2014 anh H không về nhà nữa. Tại phiên tòa, anh H xác nhận không còn tình cảm đối với chị Ng nên yêu cầu được ly hôn.

- Về con chung: có 01 con chung Đàm Chí P, sinh ngày 06-5-2012. Anh H nhường quyền nuôi con cho chị Ng và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06-12-2017, chị Dương Thị Ng xác nhận: chị Dương Thị Ng và anh Đàm Quang H kết hôn năm 2011. Tính chất công việc của anh H là phải đi làm ăn xa, vợ chồng đã kết hôn được 7 năm có một người con chung Đàm Chí P, sinh ngày 06-5-2012. Trong năm 2014 không hiểu anh H có suy nghĩ gì mà về nhà lừa lấy giấy kết hôn và giấy khai sinh của con pho to để làm chứng cứ nộp đơn yêu cầu xin ly hôn nên chị Ng không đồng ý.

Trường hợp Tòa giải quyết ly hôn giữa chị và anh H, chị không đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng theo ý kiến anh H nêu ra.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa; Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ Thẩm phán và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật.

Tại phiên xét xử; Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn tuân theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Đàm Quang H yêu cầu ly hôn chị Dương Thị Ng nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Ng hiện cư trú tại thành phố Vũng Tàu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Dương Thị Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Ngọc.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Theo xác nhận của anh Đàm Quang H và chị Dương Thị Ng, thì hai bên tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, đăng ký kết hôn tại UBND xã A, Huyện Y, tỉnh Quảng Ninh nên hôn nhân giữa anh H và chị Ng là hôn nhân hợp pháp.

Theo anh H và chị Ng xác nhận: vì tính chất công việc của anh H là phải đi làm ăn xa nên anh H không có thời gian quan tâm và chăm sóc cho gia đình. Từ năm 2014 anh H không đi về nhà nữa và vợ chồng tự sống ly thân đến nay.

Qua thu thập chứng cứ thể hiện: anh H với chị Ng chung sống tại địa phương có lối sống khép kín, ít có quan hệ với mọi người xung quanh nên địa phương không rõ nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng. Trên thực tế chỉ có một mình chị Ng và con trai sinh sống tại nhà. Tại phiên tòa, anh H xác nhận tình cảm đối với vợ không còn. Tuy chị Ng không đồng ý ly hôn nhưng chị Ng không có biện pháp nào nhằm khắc phục hay cải thiện cuộc sống chung của vợ chồng, nay chị lại vắng mặt tại Tòa chứng tỏ chị Ng không muốn duy trì cuộc sống chung với anh H. Theo quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì “vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”. Xét thấy, hôn nhân của anh H và chị Ng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị Ng là có căn cứ.

[2.2] Xét về con chung: có 01 con Đàm Chí P, sinh ngày 06-5-2012. Tại phiên tòa, anh H xác nhận, từ sau khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị Ng là người nuôi con và hiện tại chị Ng là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, để đảm bảo quyền lợi cho con và không làm xáo trộn cuộc sống của trẻ thơ nên giao con cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng.

Xét về mức cấp dưỡng nuôi con: tại bản tự khai ngày 06-12-2017, chị Ng không đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng theo ý kiến của anh H nêu ra, nhưng chị Ng không đưa ra mức cấp dưỡng là bao nhiêu và vắng mặt tại Tòa nên không xác định mức cấp dưỡng. Do đó, xét mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng mà anh H đưa ra là phù hợp nên chấp nhận. Sau này chị Ng còn được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[2.3] Xét về tài sản chung và nợ chung: Anh H, chị Ng không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, 6 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H đối với chị Ngọc.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đàm Quang H được ly hôn chị Dương Thị Ng.

- Về con chung: giao con Đàm Chí P, sinh ngày 06-5-2012 cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng. Anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh H có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đàm Quang H và chị Dương Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Đàm Quang H nộp 300.000 đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007439 ngày 23-10-2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Anh H đã nộp xong án phí.

3. Án phí về cấp dưỡng nuôi con: Anh H phải nộp 300.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết công khai.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có nghĩa lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 6a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 20/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về ly hôn

Số hiệu:20/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:07/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về