Bản án 200/2020/HNGĐ-ST ngày 01/07/2020 về tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Lê Thị Thanh H và anh Vũ Đình L

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 200/2020/HNGĐ-ST NGÀY 01/07/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH GIỮA CHỊ LÊ THỊ THANH H VÀ ANH VŨ ĐÌNH L

Ngày 01/7/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2020/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 01 năm 2020 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 19/5/2020; quyết định hoãn phiên tòa số 25/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 15/6/2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Thôn H 3 (nay là thôn 5), phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Vũ Đình L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 17/01/2020, bản tự khai ngày 13/3/2020 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị (Lê Thị Thanh H) với anh Vũ Đình L kết hôn ngày 20/02/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã A (nay là phường A), thành phố T, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở hai bên đều tự nguyện, tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, do anh L làm nghề phụ xe khách tuyến Tuyên Quang - Hà Nội nên bản thân chị vẫn sinh sống chủ yếu cùng gia đình chị tại thôn H 3 (nay là thôn 5), phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống sinh hoạt, anh L không quan tâm đến gia đình, vợ con và còn có mâu thuẫn với họ hàng nhà vợ, đã nhiều lần hai bên gia đình hòa giải nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được. Cũng từ đầu năm 2018 đến nay anh chị sống ly thân, vợ chồng không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế, anh L cũng không về sinh sống ở nhà vợ nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vũ Đình L.

Về con chung: Chị và anh Vũ Đình L có 01 con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 15/7/2017, hiện nay cháu đang ở với chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu An, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, vay nợ chung: Chị xác định chị và anh L không có tài sản và vay nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Vũ Đình L đến làm việc, nhưng anh L đều không có mặt. Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Vũ Đình L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, chị H và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị H và anh L sinh sống chủ yếu tại thôn Hưng Kiều 3 (nay là thôn 5), phường An Tường, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang nhưng vẫn thường xuyên về nhà chồng tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống anh chị H L có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân, chị H hiện nay vẫn sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở thành phố tuyên Quang còn anh L đi làm ăn xa, thỉnh thoảng mới về nhà tại thôn Đ, xã Đ. Về con chung: Anh chị H L có 01 con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 15/7/2017. Hiện cháu A đang ở cùng chị H tại thành phố Tuyên Quang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 28, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Tuyên xử cho chị Lê Thị Thanh H ly hôn với anh Vũ Đình L. Giao cháu Vũ Quỳnh A cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các bên và nghĩa vụ chịu án phí sỏ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Anh Vũ Đình L có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Hiện nay anh L đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập nhưng anh L không đến Tòa để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng anh L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện. Đây được coi là trường hợp người bị kiện cố tình trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh Vũ Đình L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp.

Tuy nhiên, hai vợ chồng chung sống không hòa thuận, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân của chị H và anh L không hạnh phúc, ly thân từ năm 2018 đến nay và cả hai bên đều không có biện pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nên không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Thanh H là xử cho chị Lê Thị Thanh H được ly hôn với anh Vũ Đình L.

[3] Về con chung: Chị Lê Thị Thanh H và anh Vũ Đình L có một con chung là cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 15/7/2017. Hiện cháu A đang ở cùng chị H tại thôn H 3 (nay là thôn 5), phường A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Xét thấy cháu A còn nhỏ, là con gái nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ, còn anh L không có nơi cư trú ổn định nên cần giao cháu Vũ Quỳnh A cho chị Lê Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

[4] Về tài sản, vay nợ chung: Chị Lê Thị Thanh H xác định vợ chồng không có tài sản, vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thanh H phải nộp án phí sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 147, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Thanh H ly hôn với anh Vũ Đình L.

2. Về con chung: Giao cháu Vũ Quỳnh A, sinh ngày 15/7/2017 cho chị Lê Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Vũ Đình L không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền đi lại thăm con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Thanh H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003197 ngày 17/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện S. Anh Vũ Đình L không phải nộp án phí.

Chị Lê Thị Thanh H và anh Vũ Đình L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

256
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 200/2020/HNGĐ-ST ngày 01/07/2020 về tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Lê Thị Thanh H và anh Vũ Đình L

Số hiệu:200/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sơn Dương - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 01/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về