Bản án 197/2020/HS-PT ngày 12/05/2020 về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 197/2020/HS-PT NGÀY 12/05/2020 VỀ LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 783/2019/TLPT-HS ngày 09 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H; Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của bị cáo Thanh Minh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 418/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo:

1/. Hoàng Hữu Ch, (tên gọi khác: H1, Yu Ch); giới tính: nam; sinh ngày 18/10/1963, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Tr, Phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: đường H, Phường 11, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam, Đài Loan (Trung Quốc); dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa:12/12; con ông: Hoàng Trần Ch và bà Nguyễn Thị Kim V; vợ: Hứa Dương Mai Y và có 02 người con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2018. (có mặt) Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Hữu Ch: Luật sư Lê Đức Th – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội. (có mặt)

2/. Thanh Minh H, giới tính: nam; sinh ngày 01/01/1963, tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường L, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: đường N, Phường 4, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chăm; tôn giáo: Bà La Môn; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Thanh C và bà Mã Thị H; vợ: Thông Thị Th và có 04 người con (lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 2001 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản của công dân”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 01 năm 2019. (có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Thanh Minh H: Luật sư Trương Thị Thu H – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị hại: Ông Phan Văn Anh V, sinh năm 1975; có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hữu Thế Tr, sinh năm 1966; nơi cư trú: đường H, Phường 9, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy ủy quyền ngày 09/10/2019).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: đường Tr1, phường H1, quận H2, thành phố Đà Nẵng.

2/. Bà Hứa Dương Mai Y, sinh năm 1979; nơi cư trú: đường H, Phường 11, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/. Bà Thông Thị Th, sinh năm 1966; nơi cư trú: đường L, Phường 13, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Trong vụ án, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Hữu Ch và Phan Văn Anh V có quan hệ quen biết nhau từ khoảng năm 2010, Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H quen biết và có quan hệ làm kinh tế với nhau từ năm 2014. Trong thời gian quen biết nhau, Thanh Minh H nói với Hoàng Hữu Ch là có thể làm được hộ chiếu, quốc tịch Mỹ cho công dân Việt Nam với chi phí khoảng từ 600.000 đến 700.000 đô la Mỹ (USD) và phải đặt cọc trước 50%, nếu ai có nhu cầu thì báo cho Thanh Minh H.

Do biết Phan Văn Anh V và gia đình có nhu cầu định cư ở Mỹ, đồng thời Vũ nói Ch tìm người làm quốc tịch Mỹ. Sau khi bàn bạc với Thanh Minh H, đầu tháng 5/2017 Ch nói với V là đã tìm được người làm hộ chiếu nhập quốc tịch Mỹ cho vợ chồng V và các con thông qua kênh ngoại giao với tổng chi phí là 2.200.000 USD (gồm 2.000.000 USD cho hai vợ chồng V, còn lại 06 người con của V là 200.000 USD). Ch cho V xem hình ảnh người đàn ông lưu trong máy tính bảng (Ipad do H cung cấp cho Ch) và nói đó là người Mỹ phụ trách Thái Bình Dương, là người làm hộ chiếu Quốc tịch Mỹ, để cho V tin tưởng là thật.

Nghe Ch nói như vậy, Phan Văn Anh V đã đồng ý. Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H thống nhất thực hiện, theo đó H chuẩn bị hồ sơ giao cho Ch, còn Ch trực tiếp làm việc với V để lập hồ sơ và thu tiền của V, rồi giao cho H.

Để thực hiện hành vi lừa đảo: khoảng tháng 6/2017, Thanh Minh H đưa cho Hoàng Hữu Ch bộ hồ sơ gồm các tờ khai bằng tiếng Anh (có mục lăn tay) và dặn Ch đem về hoàn thiện. Ch trực tiếp gặp gỡ lăn tay, thu ảnh các thành viên gia đình của V và thu giấy khai sinh của các con của V, rồi đưa lại cho Thanh Minh H nhưng không làm gì. Từ tháng 8 đến tháng 12/2017, Phan Văn Anh V nhiều lần thúc giục yêu cầu Hoàng Hữu Ch giao hộ chiếu, quốc tịch Mỹ theo thỏa thuận nhưng Ch khất lần và nại ra nhiều lý do để trì hoãn.

Ngày 21/12/2017, Phan Văn Anh V sử dụng hộ chiếu mang tên Lê Văn Sáu xuất cảnh từ Việt Nam qua Campuchia, đến ngày 22/12/2017 V nhập cảnh vào Singapore. Theo V khai là để gặp Hoàng Hữu Ch lấy hộ chiếu quốc tịch Mỹ, tại đây, Ch đưa ra lý do hộ chiếu quốc tịch Mỹ của V sẽ có hiệu lực sử dụng từ ngày 01/01/2018 và hiện đang bên Mỹ; Ch yêu cầu V đi sang Mỹ bằng đường biển để nhận nhưng V lo sợ nên không đồng ý.

Ngày 27/12/2017, Phan Văn Anh V bị cơ quan chức năng Singapore bắt giữ và trục xuất về Việt Nam. Sau đó Phan Văn Anh V đã có đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an về hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của Hoàng Hữu Ch. Theo Phan Văn Anh V khai: Khoảng giữa tháng 5/2017, tại căn hộ do V thuê ở (Tòa nhà K số đường L1, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh) V đưa cho Hoàng Hữu Ch hai lần tổng số tiền 700.000 USD (lần đầu đưa 360.000 USD, khoảng 10 ngày sau đưa tiếp 340.000 USD) là chi phí để nộp lệ phí theo yêu cầu của Ch, khi đưa tiền hai bên không viết giấy tờ gì. Hoàng Hữu Ch hẹn Phan Văn Anh V đến tháng 8/2017 sẽ làm xong.

Quá trình điều tra:

Hoàng Hữu Ch khai nhận hành vi phạm tội phù hợp như nội dung đã nêu trên. Tuy nhiên, Ch khai chỉ thừa nhận đã nhận của Phan Văn Anh V số tiền 150.000 USD, chứ không phải 700.000 USD như tố cáo của Phan Văn Anh V.

Số tiền này ban đầu Ch khai dùng để trả nợ và sử dụng cá nhân hết. Về sau, Ch thay đổi lời khai xác định đã chuyển toàn bộ 150.000 USD của V cho Thanh Minh H thông qua Thanh Ngọc Tr (là con trai của Thanh Minh H) tại nhà riêng của Ch ở đường H, Phường 11, quận Ph, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có gì chứng minh (Tại cơ quan điều tra, anh Thanh Ngọc Tr khai không thừa nhận đã nhận tiền của Ch như Ch đã khai).

Thanh Minh H khai nhận: H không có chức năng làm hộ chiếu nhập Quốc tịch Mỹ cho công dân Việt Nam. Khi nghe Hoàng Hữu Ch nói về việc Phan Văn Anh V nhờ làm hộ chiếu nhập Quốc tịch Mỹ, H không quan tâm đến việc có làm được hay không, H nói làm được và bàn với Ch thực hiện với mục đích để lấy tiền của V. Sau khi nhận hồ sơ của gia đình Phan Văn Anh V và số tiền 5.000 USD từ Hoàng Hữu Ch, H đem một số giấy tờ về nhà cất giữ, không chuyển cho ai, còn số tiền H đã chuyển cho một người đàn ông tên là Thái Quốc H (chưa xác định được) 4.000 USD thông qua một người phụ nữ tên Th2 (không rõ lai lịch), còn lại 1.000 USD H chi tiêu cá nhân hết.

Trong giai đoạn điều tra, Hoàng Hữu Ch tác động gia đình nên vợ của Ch là bà Hứa Dương Mai Y đã nộp số tiền 3.550.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Ch.

Sau khi Tòa thụ lý hồ sơ bà Thông Thị Th (vợ của Thanh Minh H) tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho H Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 418/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu Ch 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/8/2018.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thanh Minh H 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý các vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/11/2019, bị cáo Thanh Minh H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 13/11/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 58/QĐ-VKS-P3 kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Thanh Minh H thừa nhận hành vi phạm tội và thay đổi nội dung kháng cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 58/QĐ-VKS-P3 và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như bản án sơ thẩm đã quy kết. Trong vụ án này, xét về vai trò thì Ch có vai trò tích cực hơn, thực hiện các hành vi để bị hại đưa tiền; số tiền nhận từ bị hại 150.000USD thì Ch nhận 145.000 USD, bị cáo H chỉ nhận 5.000 USD, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ch 08 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa thỏa đáng nên cần tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Ch. Đối với bị cáo H, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 12 năm tù – mức đầu khung hình phạt, là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được chứng cứ mới nên không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tăng hình phạt đối với bị cáo Ch, đồng thời bác kháng cáo của bị cáo H, giữ nguyên mức hình phạt 12 năm tù đối với H.

Luật sư Lê Đức Th bào chữa cho bị cáo Ch trình bày:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ch đã thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo, ghi nhận sự đóng góp cho cộng đồng của bị cáo như những tài liệu đã cung cấp ở cấp sơ thẩm, xem xét đến bệnh tình nguy kịch của con trai bị cáo, bị cáo là lao động chính trong gia đình để giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

Luật sư Trương Thị Thu H bào chữa cho bị cáo H trình bày:

Luật sư thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là xem xét lại vai trò chủ mưu của bị cáo Ch, tất cả giao dịch từ việc nhận hồ sơ, nhận tiền, đưa tiền đều thông qua bị cáo Ch. Bị cáo H tham gia với vai trò hạn chế hơn, bị cáo H chỉ là trung gian làm hồ sơ cho V, Ch mới là người cầm đầu; nếu là người cầm đầu thì H không thể chỉ hưởng lợi 5.000 USD. Bên cạnh đó, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo H như bị cáo là dân tộc Chăm, nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vận động gia đình khắc phục hậu quả 30.000.000 đồng; bị hại xác định không có thiệt hại để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị số 58/QĐ-VKS-P3 ngày 13/11/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và đơn kháng cáo của bị cáo Thanh Minh H đúng trong thời hạn quy định nên kháng nghị, kháng cáo hợp lệ, được xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Mặc dù không có khả năng làm hộ chiếu và quốc tịch Mỹ cho gia đình Phan Văn Anh V và biết gia đình V không đủ điều kiện để nhập quốc tịch Mỹ nhưng Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H vẫn đưa ra các thông tin giả để Phan Văn Anh V tin tưởng và nhờ Ch, H thực hiện. Kết quả điều tra xác định tổng số tiền V đã đưa cho Ch và H để thực hiện việc làm hộ chiếu và quốc tịch Mỹ là 150.000USD, tương đương 3.396.750.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Ch và H không thực hiện làm hộ chiếu và quốc tịch Mỹ cho V như đã thỏa thuận mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền nêu trên.

Với hành vi như đã nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Hữu Ch và Thanh Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an; cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thanh Minh H:

Trong vụ án, bị cáo H là người đóng vai trò khởi xướng, đưa ra phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản và cùng với Ch trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản của công dân” nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình khắc phục hậu quả cho bị hại; từ đó xử phạt bị cáo 12 năm tù – mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Trong vụ án bị cáo Hoàng Hữu Ch là người trực tiếp và tích cực thực hiện hành vi phạm tội; trong số tiền chiếm đoạt của bị hại thì bị cáo là người chiếm hưởng phần lớn. Mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 năm tù là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch là có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Hoàng Hữu Ch đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn, hối cải nên có căn cứ áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ khác như bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã tác động gia đình nộp số tiền 3.550.000.000 đồng để khắc phục toàn bộ hậu quả, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi 02 con nhỏ. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thanh Minh H; có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; sửa án sơ thẩm, tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo của bị cáo Thanh Minh H và tăng hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời bào chữa của các Luật sư không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Thanh Minh H phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1/. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thanh Minh H. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 58/QĐ-VKS-P3 ngày 13/11/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 418/2019/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt đối với bị cáo Hoàng Hữu Ch.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu Ch (tên gọi khác: H1, Yu Ch) và bị cáo Thanh Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu Ch (tên gọi khác: H1, Yu Ch) 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/8/2018. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thanh Minh H 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2/. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Thanh Minh H phải chịu 200.000 đồng.

4/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án


108
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 197/2020/HS-PT ngày 12/05/2020 về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

      Số hiệu:197/2020/HS-PT
      Cấp xét xử:Phúc thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:12/05/2020
      Là nguồn của án lệ
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về