Bản án 196/2020/HNGĐ-ST ngày 03/04/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 196/2020/HNGĐ-ST NGÀY 03/04/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 03 tháng 4 năm 2020, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 996/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020 giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1990;

Địa chỉ: C7A/19H tổ 7, ấp 3A, xã VLB, huyện B, Thành phố H.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn L, sinh năm 1982;

Địa chỉ: C7A/19H tổ 7, ấp 3A, xã VLB, huyện B, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn ngày 23/8/2019, bản tự khai ngày 17/9/2019, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được ngày 01/11/2019, nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Lệ T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Huỳnh Văn L tự quen biết, tìm hiểu và bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2009. Ông bà có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện C, tỉnh ST vào năm 2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông L ham mê cờ bạc, không quan tâm tới vợ con. Bà T nhiều lần khuyên ông L thay đổi nhưng không được. Hiện nay bà và ông L đã ly thân nhưng vẫn sống chung nhà. Do không còn tình cảm với ông L nên bà yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà và ông L có 02 con chung tên: Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015. Hiện nay trẻ T1 và trẻ T2đang sống với Bà T. Khi ly hôn Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ T1 và trẻ T2, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vợ nợ chung: Hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra Bà T không có ý kiến, yêu cầu gì khác. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên Bà T yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt bà.

Ông Huỳnh Văn L vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà Nguyễn Thị Lệ T với ông Huỳnh Văn L.

+ Về con chung: Có 02 con chung tên: Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015. Giao trẻ Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của Bà T không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Ông L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về án phí: Bà T phải chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Bà Nguyễn Thị Lệ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn L. Đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.2] Bị đơn ông Huỳnh Văn L cư trú tại địa bàn huyện Bình Chánh nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bà Nguyễn Thị Lệ T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, ông Huỳnh Văn L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt Bà T, ông L là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 76 Quyển số 01/2010 xã TH, huyện C, tỉnh ST cấp ngày 27/11/2010 thì Bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Huỳnh Văn L là vợ chồng hợp pháp được pháp luật công nhận quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L đến để ông L trình bày ý kiến, làm rõ mâu thuẫn giữa ông và Bà T; đã tổ chức các buổi hòa giải để động viên ông L và Bà T hóa giải mâu thuẫn, hàn gắn lại quan hệ vợ chồng. Tuy nhiên ông L vắng mặt tại tất cả những phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như phiên hòa giải. Ông L cũng không có mặt theo lịch triệu tập của Tòa án mà vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, giấy triệu tập, cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Bà T.

Điều này chứng tỏ ông L không thật sự có mong muốn hòa giải với Bà T, không có sự cố gắng để hàn gắn quan hệ vợ chồng.

[3.3] Theo Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã VLB, huyện B thể hiện: “…Nguyên nhân phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn giữa Bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Huỳnh Văn L do bất đồng quan điểm sống…”. Căn cứ và kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã VLB và lời trình bày của Bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy giữa Bà T và ông L đã không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau và chăm lo cho cuộc sống gia đình, mâu thuẫn hôn nhân của ông bà đã đến mức trầm trọng. Ông L không thật sự có mong muốn hàn gắn lại gia đình.

[3.4] Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa Bà T và ông L đã mâu thuẫn trầm trọng, giữa vợ chồng ông bà đã không còn sự thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; đời sống chung giữa Bà T và ông L không thể kéo dài thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của Bà Nguyễn Thị Lệ T là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.5] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Lệ T xác nhận giữa bà và ông L có 02 con chung tên Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015. Hiện nay trẻ T1 và trẻ T2 đang sống với Bà T.

Tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về ngưi trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trưng hợp không thỏa thuận đưc thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

[3.6] Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh thể hiện: “…Giữa Bà Nguyễn Thị Lệ T và ông Huỳnh Văn L có 02 con chung và đang sinh sống cùng cha mẹ tại địa chỉ C7A/19H ấp 3A, xã VLB, huyện B, Thành phố H, gồm: Huỳnh Văn T1, sinh năm 2010 và Huỳnh Anh T2, sinh năm 2015…”. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T1 và trẻ T2, ông L vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình. Hội đồng xét xử nhận thấy hiện nay trẻ T1 và trẻ T2 đang sống cùng Bà T, nếu tiếp tục giao trẻ cho Bà T nuôi dưỡng sẽ giúp trẻ ổn định về tâm lý. Quyết định này cũng phù hợp với nguyện vọng của trẻ thể hiện tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 17/9/2019 của trẻ T1. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thành của trẻ T1 và trẻ T2, Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ T1 và trẻ T2 cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

[3.7] Về cấp dưỡng nuôi con:

Tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưng, giáo dục con chưa thành niên…”.

Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưng cho con”.

Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ T1 và trẻ T2 là trách nhiệm chung của cả Bà T và ông L. Để đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của trẻ T1 và trẻ T2, Hội đồng xét xử nhận thấy không giao con chung cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng nhưng cần phải buộc ông L cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông L không thể hiện ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con trong trường hợp Tòa án giao con chung cho Bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy đây là sự tự nguyện của Bà T, không trái quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông L.

[3.8] Về tài sản chung: Bà T xác nhận bà và ông L tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này giữa bà và ông L có tranh chấp thì bà sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

[3.9] Nợ chung: Bà T xác nhận giữa bà với ông L không có bất kỳ khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[3.10] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Bà Nguyễn Thị Lệ T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2ờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Lệ T được ly hôn với ông Huỳnh Văn L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 76 Quyển số 01/2010 xã TH, huyện C, tỉnh ST cấp ngày 27/11/2010 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015. Giao trẻ Huỳnh Văn T1, sinh ngày 07/5/2010 (giới tính nam) và Huỳnh Thị Anh T2, sinh ngày 18/5/2015 (giới tính nữ) cho Bà Nguyễn Thị Lệ T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông L. Ông Huỳnh Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Bà T xác nhận bà và ông L tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này giữa bà và ông L có tranh chấp thì bà sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

4. Nợ chung: Bà T xác nhận giữa bà với ông L không có bất kỳ khoản nợ chung nào nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà T đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0002823 ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 196/2020/HNGĐ-ST ngày 03/04/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:196/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:03/04/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về