Bản án 194/2019/HSST ngày 17/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 194/2019/HSST NGÀY 17/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 193/2019/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2019/HSST-QĐXX ngày 02 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Thành L, sinh ngày 29-12-1983 tại tỉnh Quảng Ninh; HKTT: xã Y, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; Nơi ở: số 21/2 đường K, phường S, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim Kh, sinh năm 1958 và bà Bùi Kim Y, sinh năm 1957; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Th, sinh năm 1983 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 15/9/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt Nguyễn Thành L 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 66/2010/HSPT).

Bị cáo bị bắt ngày 02 tháng 6 năm 2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Văn Lan – Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 02/6/2019, tại hẻm 491 đường Tr, phường T, thành phố Vũng Tàu, Bộ tư lệnh vùng Cảnh sát biển 3 phối hợp với Công an phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Thành L đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine).

Quá trình điều tra, Nguyễn Thành L khai nhận: L nghiện ma túy từ năm 2007. Số ma túy bị thu giữ, L mua của một người phụ nữ tên Tr (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực Xóm L, phường T, TP Vũng Tàu nhằm mục đích sử dụng. Ngoài ra, L còn mua ma túy của nhiều người nữa tại khu vực trên nhưng không biết địa chỉ, lai lịch cụ thể.

Lời khai của Nguyễn Thành L phù hợp với chứng cứ thu thập được và phù hợp với lời khai của người chứng kiến.

Tại Bản kết luận giám định số 195/GĐMT-PC09(Đ4) ngày 04 tháng 6 năm 2019 của phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, kết luận:

Mẫu chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) gói giấy bạc, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường Thắng Nhì, TP Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Phan Hữu Quân, Nguyễn Thành L, Lê Trọng Đông, Vũ Văn Tú gửi đến giám định có khối lượng 0,2585 gam, là chất ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (BLĐT: 42-47). Không có tình tiết tăng nặng TNHS - Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

+ Cơ quan chức năng thu giữ của Nguyễn Thành L: 01 cục chất bột màu trắng được gói trong tờ giấy bạc, 300.000 đồng tiền Việt Nam; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imel 1: 352802972682209, 01 xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 72E1-464.97, số khung: RLHJF6308FZ149715, số máy: JF63E-1503804.

- Đối với chiếc xe mô tô hiệu Air Blade, biển số 72E1-464.97 mà L sử dụng, sau khi xác định chủ sở hữu là chị Phan Lê Thùy Tr. Chị Tr không biết L sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho chị Tr.

- Đối với số vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý chờ xử lý.

Đối với người phụ nữ tên Tr đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L ở khu vực Xóm L, phường T, TP Vũng tàu, do không rõ lai lịch, Cơ quan điều tra Công an TP Vũng Tàu tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo qui định của Pháp luật.

Bản cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 20-9-2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Nguyễn Thành L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điêm s khoản 1 Điêu 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Trả lại cho bị cáo 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imel 1: 352802972682209.

Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến: Thống nhất quan điểm của kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt. Tuy nhiên, về hình phạt, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là quá nặng đối với bị cáo; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đồng thời, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h, i, s, t Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiêm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo đồng ý với ý kiến bào chữa của luật sư và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 17 giờ ngày 02/6/2019, tại hẻm 491 đường Tr, phường T, thành phố Vũng Tàu, Bộ tư lệnh vùng Cảnh sát biển 3 phối hợp với Công an phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu bắt quả tang Nguyễn Thành L đang tàng trữ 0,2585 gam Heroine. Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiêm cho xã hội; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng khi ra tù không lấy đó làm bài học tu sửa bản thân, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại quay về con đường cũ, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 với khung hình phạt từ 1 đến 5 năm tù, là loại tội phạm nghiêm trọng. Điều đó, chứng tỏ bị cáo không có ý thức ăn năn hối cải. Vì vậy, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận, ý kiến bào chữa của Luật sư đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không đủ cơ sở để chấp nhận. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khân khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ma túy niêm phong số 195/GĐ-PC54 (Đ4) ngày 04-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là chất nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imel 1: 352802972682209 và 300.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điêm s khoản 1 Điêu 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 6 năm 2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy niêm phong số 195/GĐ-PC54 (Đ4) ngày 04-6-2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, có số imel 1: 352802972682209 và 300.000 đồng.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 08/BB.THA và biên lại thu tiền số 0000711 ngày 15-10-2019.

4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đông ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 194/2019/HSST ngày 17/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:194/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về