Bản án 193/2018/HSST ngày 31/07/2018 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 193/2018/HSST NGÀY 31/07/2018 VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31.7.2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân Quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 204/2018/HSST ngày 09.7.2018 đối với các bị cáo:

1. Trần Thanh P; Sinh năm: 1979. ĐKHKTT: Không có nơi ĐKHKTT. Nơi ở: T, phường Đ, quận H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 9/12. Con ông: Trần Đức T (c). Con bà: Nguyễn Thị T1. Danh chỉ bản số 062 ngày 31.12.2017 do công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Tiền sự: Không. Tiền án: 02 tiền án: - Ngày 29/08/2006, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích). - Ngày 27/12/2013, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích). Bắt khẩn cấp ngày 31/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị T1; Sinh năm: 1957. ĐKHKTT: phố M, phường H, quận H, Hà Nội. Nơi ở: T, phường Đ, quận H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 6/10. Con ông: Nguyễn Văn L (c). Con bà: Nguyễn Thị H (c). Danh chỉ bản số 061 ngày 31.12.2017 do công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Tiền sự: 08 tiền sự: - Từ tháng 7/1974 đến tháng 10/1989 đã 08 lần bị xử lý hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản, Chứa chấp – tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tiền án: 02 tiền án: - Ngày 01/09/1984, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích). - Ngày 27/10/2011, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích). Bắt khẩn cấp ngày 31/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Cao Giang H; Sinh năm: 1963. ĐKHKTT và nơi ở: N, phường Đ, quận H, Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 7/10. Con ông: Cao Văn C (c). Con bà: Nguyễn Thị G. Danh chỉ bản số 057 ngày 31.12.2017 do công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Tiền sự: 01 tiền sự: - Tháng 9/2009, đi cai nghiện bắt buộc. Tiền án: - Ngày 17/11/1999, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 15 tháng về tội đánh bạc (đã xóa án tích). Bắt quả tang ngày 27/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Lý Văn T2; Sinh năm: 1965. ĐKHKTT: phố X, phường P, quận Đ, Hà Nội. Nơi ở: Lang Thang. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 6/10. Con ông: Lý Văn P (c). Con bà: Nguyễn Thị K. Danh chỉ bản số 058 ngày 31.12.2017 do công an quận Hai Bà Trưng cung cấp. Tiền sự: 02 tiền sự: - Từ tháng 02/2004 đến tháng 7/2010 đã 02 lần bị xử lý hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản và đi cai nghiện bắt buộc. Tiền án: 01 tiền án: - Ngày 07/04/2011, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích). Bắt quả tang ngày 28/12/2017. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thanh Q (sinh năm: 1994, trú tại: Đ, phường N, quận B, Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12h30' ngày 27/12/2017, tại khu vực trước cây xăng Trần Khát Chân, phường Phố Huế , quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, tổ công tác đội CSĐTTP về Ma tuý Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính đối với Cao Giang H. Qua kiểm tra thu giữ trong túi áo ngực của H 03 gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói 0,5 x 0,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ H tự khai là Heroine vừa mua của Nguyễn Thị T1 tại số 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội để sử dụng. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H 01 xe máy kiểu dáng Wave Alpha màu xanh, 13KS18S4- 1564. Tổ công tác đã đưa Cao Giang H cùng tang vật, phương tiện về trụ sở để điều tra, làm rõ.

Quá trình điều tra, Cao Giang H khai nhận: Khoảng 12h ngày 27/12/2017, H đi xe máy đến số 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội mua của Nguyễn Thị T1 03 gói heroin với giá 300.000 đồng, sau đó cầm ma túy đi tìm nơi sử dụng, khi đến cây xăng Trần Khát Chân thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Trước đó khoảng 01 tháng, H cũng đến địa chỉ trên mua của T1 01 gói Heroin với giá 100.000 đồng và đã sử dụng hết. Các gói ma túy H mua của T1 đều có đặc điểm là ma túy Heroin, bọc trong gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói 0,5 x 0,5cm, T1 bán với giá 100.000 đồng/01 gói. Kết quả dẫn giải và nhận dạng, H xác định đã 02 lần mua ma túy của Nguyễn Thị T1 tại địa chỉ số 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội.

Hồi 12h05' ngày 28/12/2107, tại trước số nhà 508 Trần Khát Chân, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, trà Nội, tổ công tác đội CSĐT về Ma túy - Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính đối với Lý Văn T2. Qua kiểm tra thu giữ trong bàn tay trái của T2 01 gói nylon màu hồng, kích thước 01x01 cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, T2 khai nhận là ma túy heroin của một nam thanh niên không quen biết vào khoảng 12h cùng ngày tại trước cửa số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội. Trên đường mang ma túy đi sử dụng thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Lý Văn T2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu Đỏ - đen, BKS: 29E1-45241. Tổ công tác đã đưa T2 cùng tang vật phương tiện về trụ sở để điều tra, làm rõ.

Tại Cơ quan Công an, Lý Văn T2 khai nhận trước đó đã nhiều lần đến số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội mua ma túy để sử dụng: Lần thứ nhất vào khoảng 12 giờ ngày 25/12/2017, khi đến đầu ngõ 272 T, T2 thấy T1 đang ngồi ở quán nước đầu ngõ. Nhìn thấy T2, T1 hất hàm về phía nhà mình ra hiệu. Hiểu ý T1 nên T2 đã vào trong nhà mua của Trần Thanh P 01 gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng; Lần thứ hai vào khoảng khoảng 20 giờ ngày 26/12/2017, T2 mua của Nguyễn Thị T1 01 gói ma túy heroin với giá 100.000 đồng. Số ma túy mua của P và T1 đã T2 sử dụng hết. Gói ma túy bị Công an thu giữ ngày 28/12/2107 là do T2 mua của một thanh niên không quen biết ở khu vực trước cửa số 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội.

Hồi 13h40' ngày 27/12/2017, tại khu vực cầu Mai Động, phường Minh khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, tổ công tác đội CSĐTTP về Ma túy - Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Quốc V (SN 1982. Trú tại: tổ 9 phường T, quận H, Hà Nội. Kết quả không phát hiện, thu giữ gì. Xét nghiệm ma túy đối với V, kết quả dương tính. Nguyễn Quốc V khai nhận bản thân nghiện ma túy. Vào khoảng 18h00' ngày 25/12/2017 và khoảng 12h00' ngày 26/12/2017, đã 02 lần V mua ma tuý Heroin của Trần Thanh P tại số nhà 18 ngõ 272 Tphường Đ, quận H, Hà Nội. Mỗi lần V mua của P 01 gói nylon màu hồng chứa Heroin với giá 100.000 đồng/ 1 gói. Số Heroin mua từ P đã được V sử dụng hết. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Quốc V về trụ sở để xác minh, làm rõ.

Hồi 18h00’ ngày 27/12/2017, tại trước số nhà 20 Kim Ngưu, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Tổ công tác đội CSĐTTP về Ma túy - Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính đối với Dương Tiến D (Sinh năm: 1971; Trú tại: phường Q – quận H - Hà Nội). Kết quả không phát hiện, thu giữ gì. Xét nghiệm ma túy đối với D, kết quả dương tính. Dương Tiến D khai nhận bản thân nghiện ma túy. Trước đó vào khoảng 12h30' ngày 08/12/2017 và khoảng 13h00' ngày 24/12/2017, đã 02 lần D mua ma túy Heroin của Trần Thanh P tại số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội. Mỗi lần D mua của P 01 gói nylon màu hồng chứa Heroin với giá 100.000 đồng/ 01 gói. Số Heroin mua từ P đã được D sử dụng hết. Tổ công tác đã đưa Dương Tiến D về trụ sở để xác minh, làm rõ.

Hồi 11h45' ngày 28/12/2017, tại nước số nhà 38 phố Đại Cồ Việt, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, tổ Công tác đội CSĐTTP về Ma túy Công an quận Hai Bà Trưng kiểm tra hành chính đối với Phan Tất L (Sinh năm: 1962; Trú tại: B - phường B – quận H– Hà Nội), kết quả không phát hiện, thu giữ gì. Xét nghiệm ma túy đối với L, kết quả dương tính. Tại Cơ quan Công an, L khai nhận bản thân nghiện ma túy, đã nhiều lần mua ma túy Heroin của Nguyễn Thị T1 và Trần Thanh P tại số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội để sử dụng. Cụ thể: Khoảng 12h00' ngày 26/12/2017 , L đã mua của P 01 gói heroin với giá 100.000 đồng. Trước đó khoảng 1 tuần, L đã mua của T1 02 gói heroin với giá 100.000 đồng/01 gói. L còn mua ma túy của P 05 lần, mua ma túy của T1 02 lần nhưng không nhớ rõ thời gian và số lượng ma tuý đã mua. Ma túy Heroin L mua của T1 và P đều có đặc điểm bọc trong gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói 0,5x0,5cm. Số ma túy mua của P và T1 đã được L sử dụng hết. Tổ công tác đã mời Phan Tất L về trụ sở để xác minh, làm rõ.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 29/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an quận Hai Bà Trưng tiến hành khám xét khẩn cấp số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ,quận H, Hà Nội. Tại thời điểm khám xét, trong nhà có Nguyễn Thị T1, Trần Thanh P và Nguyễn thanh T3 (Sinh ngày: 03/01/2000, ở cùng địa chỉ trên). Kết quả phát hiện, thu giữ:

- Thu tại bàn trang điểm cạnh cửa ra vào trong phòng tầng 2: 01 túi nylon màu đen bên trong có: 01 túi nylon màu trắng, kích thước khoảng 05x10 cm đựng 50 gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói khoảng 01x01cm đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nylon màu trắng, kích thước khoảng 05 x 10 cm đựng 49 gói giấy bạc màu vàng, kích thước mỗi gói khoảng 01 x 01cm đều chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (02x02) cm chứa chất bột màu trắng; 10 mảnh nylon màu hồng, kích thước mỗi mảnh khoảng 04x04cm; 10 mảnh giấy bạc màu vàng, kích thước mỗi mảnh khoảng 04x04 cm; Trần Thanh P tự giác giao nộp ở bên trong mũ áo khoác lông màu đen P đang mặc có 01 túi nylon trắng đựng 21 gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói khoảng 01 x 01cm bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nylon màu trắng đựng 24 gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói khoảng 01 x 01cm đều chứa chất bột màu trắng; 01 túi nylon màu trắng đựng 02 gói nylon màu hồng, kích thước mỗi gói khoảng 02x02 cm đều chứa chất bột màu trắng, 01 gói giấy bạc màu trắng, kích thước khoảng 2,5x3 chỉ chứa chất bột màu trắng và số tiền 100.000 đồng;

Thu giữ của Trần Thanh P: 01 ĐTDĐ kiểu dáng Iphone 6 màu vàng đã qua sử dụng, không rõ chất lượng và số tiền 22.000.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Thị T1: 01 ĐT kiểu dáng lphone 6 màu ghi đã qua sử dụng, không rõ chất lượng và số tiền 10.000.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hai Bà Trưng đã trưng cầu giám định đối với các tài liệu, đồ vật thu giữ. Kết quả:

* Tại Bản Kết luận giám định số 1146 ngày 05/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội, kết luận số tang vật thu giữ của Cao Giang H: chất bột màu trắng bên trong 03 gói nylon màu hồng đều là ma tuý heroin, tổng trọng lượng 0,154gam.

* Tại Bản Kết luận giám định số 1282 ngày 08/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội, kết luận tang vật thu giữ của Lý Văn T2: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nylon màu hồng là ma túy heroin, trọng lượng 0,121 gam.

* Tại Bản Kết luận giám định số 1097 ngày 05/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội, kết luận tang vật thu giữ của Trần Thanh P:

"Chất bột màu trắng trên trong 50 gói nylon màu hồng và 49 gói giấy bạc màu vàng là ma túy heroin, tống trọng lượng: 5,677 gam;

- Chất bột màu trắng bản trong 01 gói giấy bạc màu vàng là ma tuý heroin, trọng lượng: 0,352 gam.

- Chất bột màu trắng bên trong 47 gói nylon màu hồng là 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy heroin, tổng trọng lượng: 4,171 gam.

- 10 mảnh giấy bạc màu vàng và 10 mảnh nylon màu hồng không thành phần chất ma túy”.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh P và Nguyễn Thị T1 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, P khai khoảng 21h00 ngày 25/12/2017, P đi bộ một mình từ nhà đến khu vực trước cửa số nhà 5 phố Lạc Trung, phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy để bán lại kiếm lời. Tại đây, P đã mua của một người phụ nữ không quen biết 01 cục ma túy heroin được gói giấy màu trắng với giá tiền 5.000.000 đồng. P mang ma túy về nhà chia thành 151 gói heroin nhỏ để bán lại kiếm lời (trong đó có 49 gói bọc bằng giấy bạc màu vàng, P sẽ bán với giá tiền là 50.000 đồng/01 gói; 98 gói heroin đã bọc bằng giấy bạc màu vàng, bên ngoài bọc thêm một lớp nylon màu hồng bên ngoài P sẽ bán với giá tiền là 100.000 đồng/01 gói; 04 gói còn lại bao gồm 02 gói nylon màu hồng, 01 gói nylon màu vàng và gói giấy bạc màu vàng là vụn heroin). Ngày 26/12/2017, tại tầng 1 số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội, P đã bán 03 gói ma túy heroin bọc bằng nylon màu hồng cho Nguyễn Quốc V, Phan Tất L và một nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch với giá tiền là 100.000 đồng/01 gói. Khoảng 20h30' ngày 26/12/2017, khi P về nhà, thì Nguyễn Thị T1 nói với P về việc khoảng 20h00 cùng ngày, khi P đi vắng, thì T1 đã bán 01 gói ma túy heroin cho Lý Văn T2 với giá tiền là 100.000 đồng/01 gói. Số tiền trên, T1 đã sử dụng hết. Nguyễn Thị T1 khai nhận đã bán ma túy cho Lý Văn T2 phù hợp với lời khai của P và T2. T1 và P khai nhận T1 thường ra ngoài quán nước đầu ngõ để ra ký hiệu cho khách và cảnh giới cho P bán ma túy.

Cơ quan Điều tra đã dẫn giải P đi xác định địa điểm và người phụ nữ bán ma túy cho P vào ngày 25/12/2017 nhưng P không xác định được nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.

Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho Lý Văn T2: T2 khai không biết nhân thân, lai lịch của nam thanh niên này. Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng - Hà Nội đã tổ chức truy tìm, nhưng không làm rõ được. Do vậy Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng – Hà Nội không có căn cứ xác minh, làm rõ xử lý.Nguyễn Quốc V, Dương Tiến D, Phan Tất L khai đã nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Thị T1 và Trần Thanh P và đều sử dụng hết. Quá trình kiểm tra không phát hiện thu giữ được ma túy của V, D, L nên Cơ quan CSĐT - Công an quận hai Bà Trưng không có căn cứ để xử lý đối với V, D, L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nguyễn Thanh T3 khai nhận biết việc mẹ là Nguyễn Thị T1 và chị gái là Trần Thanh P bán ma túy từ đầu năm 2017. Biết Dương Tiến D, Phan Tất L, Lý Văn T2 là những người thường xuyên đến nhà mua ma túy của P và T1 nhưng không tham gia vào việc T1 và P bán ma túy. Xét hành vi của Nguyễn Thanh T3 không cấu thành tội Không tố giác tội phạm, quy định tại Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để xử lý.

Đối với chiếc xe máy xe máy Honda Wave, màu: Đỏ - đen, biển kiểm soát; 29E1 - 45241 (số máy: 5232387, số khung: 733022) thu giữ của Lý Văn T2 và chiếc xe máy Wave Alpha biển kiểm soát: 18S4 - 1564 (số máy 0355672, số khung 355460) thu giữ của Cao Giang H. Quá trình điều tra chưa xác minh được chủ sở hữu nên Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng đã ra Quyết định tách tài liệu liên quan đến hai chiếc xe máy để tiếp tục xác minh, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 185/CT/VKS-HS ngày 28.6.2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng thì bị cáo Trần Thanh P bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, h khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo Nguyễn Thị T1 bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Các bị cáo Lý Văn T2 và Cao Giang H bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thanh Q có ý kiến: Số tiền 22.100.000 đồng mà Cơ quan công an thu giữ của Trần Thanh P và 10.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T1 là tiền của chị lao động tiết kiệm được mà có. Chị cho chị gái là Trần Thanh P và mẹ là Nguyễn Thị T1 vay để chi tiêu sinh hoạt và chữa bệnh cho chị gái, không liên quan gì đến việc mua bán ma túy của chị gái và mẹ chị. Chị Q đề nghị Hội đồng xét xử cho chị xin lại số tiền trên để trang trải cuộc sống gia đình.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị các cáo Trần Thanh P, Nguyễn Thị T1, Cao Giang H, Lý Văn T2 về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: điểm b, h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét xử bị cáo Trần Thanh P với mức hình phạt từ 10 năm đến 11 năm tù.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét xử bị cáo Nguyễn Thị T1 với mức hình phạt từ 8 năm đến 9 năm tù.

Áp dụng: khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét xử bị cáo Cao Giang H với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù.

Xét xử bị cáo Lý Văn T2 với mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù.

Tang vật: - Tịch thu tiêu hủy: 10,478 gam Heroin, 10 mảnh giấy bạc màu vàng, 10 mảng nilon màu hồng;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng thu giữ của Trần Thanh P, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

- Số tiền 22.100.000đ thu giữ của Trần Thanh P và 10.000.000đ thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho chị Nguyễn Thanh Q;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu ghi thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên. Các bị cáo nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, được chứng minh theo biên bản bắt người. Thấy có đủ cơ sở kết

luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017, tại số nhà 18 ngõ 272 T, phường Đ, quận H, Hà Nội. Trần Thanh P và Nguyễn Thị T1 có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma túy, tổng trọng lượng là 10,478 gam ma túy Heroin;

Hồi 12h30' ngày 27/12/2017, tại khu vực trước cây xăng trần Khát Chân, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Cao Giang H có hành vi tàng trữ trái phép 0,154 gam ma túy Heroin; Hồi 12h05' ngày 28/12/2107, tại trước số nhà508 trần Khát Chân, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Lý Văn T2 có hành vi tàng trữ trái phép 0,124 gam ma túy Heroin. 

Hành vi của bị cáo Trần Thanh P đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T1 đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Hành vi của các bị cáo Cao Giang H, Lý Văn T2 đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý các chất ma tuý của nhà nước gây mất trật tự trị an, gây bất bình và tâm lý lo lắng cho những người dân trong khu vực. Ma tuý đang là mối hiểm họa của toàn xã hội. Nhà nước đã có nhiều chính sách cương quyết tuyên truyền vận động đến chế tài xử lý nghiêm khắc mọi hành vi liên quan đến ma tuý. Với lối sống buông thả các bị cáo đã sớm đi vào con đường nghiện ngập, vi phạm pháp luật, không chịu lao động chân chính giúp ích cho bản thân gia đình và hậu quả là pH đứng trước bục khai báo ngày hôm nay chịu sự xử lý của pháp luật. Nên cần pH áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi và nhân thân của các bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo thành người tốt.

Xét nhân thân bị cáo Trần Thanh P không có tiền sự nhưng có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Lần này phạm tội xác định là tái phạm nguy hiểm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo P là đối tượng đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không tiếp thu sửa chữa, hoàn thiện mình. Lần này bị cáo phạm tội cùng một loại tội đã bị pháp luật xử lý. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo hiện sức khỏe yếu mới mổ. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Thị T1 có 08 tiền sự đã hết thời hiệu từ lâu và có 02 tiền án đã xóa án tích. Lần này phạm tội không xác định là tái phạm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T1 là đối tượng đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không tiếp thu sửa chữa, hoàn thiện mình. Lần này bị cáo phạm tội cùng một loại tội đã bị pháp luật xử lý. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với các bị cáo Trần Thanh P và Nguyễn Thị T1 Hội đồng xét xử xem xét hai bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt là hai mẹ con. Bị cáo T1 đã nhiều tuổi, hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo P bị bệnh HIV giai đoạn cuối, chồng chết, có con nhỏ, để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Cao Giang H có 01 tiền sự đã hết thời hiệu và có 01 tiền án đã xóa án tích. Lần này phạm tội không xác định là tái phạm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng đã được pháp luật giáo dục nhưng không tiếp thu sửa chửa, hoàn thiện mình. Cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét nhân thân bị cáo Lý Văn T2 có 02 tiền sự đã hết thời hiệu và có 01 tiền án đã xóa án tích. Lần này phạm tội không xác định là tái phạm. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng đã được pháp luật giáo dục nhưng không tiếp thu sửa chữa, hoàn thiện mình. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo. Tuy nhiên, tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy: 10,478 gam Heroin, 10 mảnh giấy bạc màu vàng, 10 mảng nilon màu hồng;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng thu giữ của Trần Thanh P, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

- Số tiền 22.100.000đ thu giữ của Trần Thanh P và 10.000.000đ thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho chị Nguyễn Thanh Q;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu ghi thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

Các bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố : Các bị cáo Trần Thanh P, Nguyễn Thị T1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo Cao Giang H, Lý Văn T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

 Áp dụng : điểm b, h khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106, điều 136, điều 331, điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Xử phạt : Trần Thanh P 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2017.

 Áp dụng : điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

 Xử phạt : Nguyễn Thị T1 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2017.

 Áp dụng: khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

 Xử p hạt : Cao Giang H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2017.

 Xử phạt : Lý Văn T2 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2017.

Tang vật:

- Tịch thu tiêu hủy: 10,478 gam Heroin, 10 mảnh giấy bạc màu vàng, 10 mảng nilon màu hồng;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng thu giữ của Trần Thanh P, không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

- Số tiền 22.100.000đ thu giữ của Trần Thanh P và 10.000.000đ thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho chị Nguyễn Thanh Q;

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu ghi thu giữ của Nguyễn Thị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo;

Các tang vật để tại chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng theo biên bản bàn giao vật chứng số 237/2017 ngày 28.7.2018 và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18.07.2018 tại chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 193/2018/HSST ngày 31/07/2018 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:193/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:31/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về