Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 03/06/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

BẢN ÁN 19/2021/HNGĐ-ST NGÀY 03/06/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 20/5/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lèng Thị L , sinh năm 1999. nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh H; chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã K, huyện X, tỉnh H “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

- Bị đơn: Anh Ma Văn Q , sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh H “vắng mặt, không có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lèng Thị L trình bày: Chị và anh Ma Văn Q tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh Q tại thôn L, xã B, huyện B, tỉnh H để sinh sống. Quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tình trạng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Chị L nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Q .

Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Ma Thị N, sinh ngày: 06/6/2017. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và chị yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi cháu N, mức cấp dưỡng là 1.000.000 đồng/ tháng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không có tài sản chung và công nợ chung nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn đề nghị đề ngày 22/3/2021, bị đơn là anh Ma Văn Q trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh không nhất trí ly hôn, nếu phải ly hôn anh yêu cầu chị L trả lại cho anh số tiền sính lễ là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng); về con chung anh không nhất trí giao con cho chị L nuôi dưỡng; về tài sản chung và công nợ chung không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Ma Văn Q nhiều lần để tham gia hòa giải nhưng anh Q vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại các biên bản xác minh ngày 06/4/2021 của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với bà Ma Thị B là mẹ đẻ của anh Q , trưởng thôn L, xã B và đại diện UBND xã Bằng Hành nơi chị L và anh Q sinh sống phản ánh về tình trạng hôn nhân của anh chị như sau:

Chị Lèng Thị L và anh Ma Văn Q tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bằng Hành, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vào năm 2017 trên cơ sở tự nguyện của cả đôi bên. Sau khi kết hôn, chị về nhà anh Q tại thôn L, xã B, huyện B, tỉnh H để sinh sống. Quá trình chung sống, thời gian đầu của thời kỳ hôn nhân anh chị chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tình trạng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Ma Thị N, sinh ngày 06/6/2017. Trong thời gian anh chị sống ly thân, anh Q là người trực tiếp nuôi cháu N, anh rất quan tâm chăm sóc, giáo dục cháu N; từ khi bỏ nhà đi chị L không trở về thăm nom cháu N lần nào. Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh, chị ly hôn thì giao cháu N cho anh Q nuôi dưỡng thì tốt hơn.

Tại phiên toà hôm nay, chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự phát biểu: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Lèng Thị L được ly hôn anh Ma Văn Q . Việc nuôi con: Giao cháu Ma Thị N, sinh ngày 06/6/2017 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về yêu cầu của anh Q đòi lại đồ sính lễ khi chị L có yêu cầu ly hôn, đây là yêu cầu trái quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX không chấp nhận. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Lèng Thị L có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn là anh Ma Văn Q , anh Ma Văn Q có nơi cư trú tại thôn L, xã B, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lèng Thị L và anh Ma Văn Q xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian ngắn chung sống với nhau hạnh phúc. Đến năm 2019 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn giữa hai anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng quan hệ hôn nhân của anh chị vẫn không được cải thiện. Anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, việc ai người đấy làm, không còn quan tâm đến nhau. Lời trình bày của chị phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án qua phản ánh của mẹ đẻ anh Q , trưởng thôn và đại diện chính quyền địa phương nơi anh chị sinh sống. Mặt khác quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải nhưng anh Ma Văn Q vắng mặt không có lý do. HĐXX xét thấy, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lèng Thị L được ly hôn anh Ma Văn Q . Ý kiến phản đối của anh Ma Văn Q không nhất trí ly hôn; nếu phải ly hôn, chị L phải trả lại tiền sính lễ cho anh là trái với quy định của pháp luật nên không được chấp nhận.

[4] Về việc nuôi con: Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Ma Thị N, sinh ngày 06/6/2017. Khi ly hôn, cả hai anh chị đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. HĐXX xét thấy nguyện vọng nuôi con của cả hai anh, chị xuất phát từ tình cảm, vì lợi ích của con. Tuy nhiên trong thời gian anh, chị sống ly thân, anh Q là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu N tốt. Mặt khác giao cháu N cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng thì cháu N tiếp tục được học tập, sinh hoạt trong môi trường cũ, ổn định cho cháu. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu N cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi và chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về chia tài sản chung, công nợ chung: Chị L, anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lèng Thị L được ly hôn anh Ma Văn Q .

2. Về việc nuôi con: Xử giao cháu Ma Thị N, sinh ngày 06/6/2017 cho anh Ma Văn Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Lèng Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai thu số: 0001342, ngày 02/3/2021.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2021/HNGĐ-ST ngày 03/06/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:19/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bắc Quang - Hà Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:03/06/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về