Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 09/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 03/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/01/2018 VỀ LY HÔN,TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 09/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 137/2017/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2017 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/11/2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2017/QĐST-HNGĐ ngày 12/12/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1985. (Có mặt). Địa chỉ: Số xx, ấp B, xã B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Lê Hữu N, sinh năm: 1980. (Vắng mặt). Địa chỉ: Số xx ấp B, xã B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1/ Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày: Do mai mối và được sự đồng ý của hai bên gia đình nên năm 2008 bà và ông Lê Hữu N sống chung, có tổ chức đám cưới. Sau đó có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số xx ngày 13/6/2008.

Sau khi cưới, vợ chồng chung gia đình chồng tại ấp B, xã B, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông N ăn chơi, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi. Bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và vợ chồng cắt đứt quan hệ từ năm 2009 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hữu N.

Vợ chồng có con chung tên Lê Kim P, sinh ngày 03/3/2010, hiện đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Kim P, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Nghĩa vụ trả nợ: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Bị đơn ông Lê Hữu N trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các thông báo về phiên hòa giải và phiên tòa xét xử nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Do ông N vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông Lê Hữu N vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nghĩa theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Trụ chấp nhận cho đương sự được ly hôn với ông Lê Hữu N. Đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với ông N, vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa bà và ông N không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà và ông N cắt đứt quan hệ tình cảm vợ chồng từ năm 2009 cho đến nay. Xét, hôn nhân giữa bà T và ông N có đăng ký kết hôn, được Uỷ ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số xx ngày 13/6/2008, đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành các thủ tục về cấp tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này chứng minh ông N không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa hai bên. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Thủy là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về nuôi con chung: Vợ chồng có con chung tên Lê Kim P, sinh ngày 03/3/2010, hiện đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Lê Kim P, không yêu cầu ông Nghĩa cấp dưỡng nuôi con. Xét, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau thì con chung sống với bà T. Mặc khác, tại bản tự khai Lê Kim P có nguyện vọng sống chung với bà T. Do đó, để ổn định tình cảm và duy trì sự sinh hoạt bình thường của con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung tên Lê Kim P cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Do bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về chia tài sản và nghĩa vụ trả nợ: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử xét không đề cập xem xét.

[7] Án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; 147; 228; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Hữu N.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Lê Kim P, sinh ngày 03/3/2010 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Lê Hữu N không cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Án phí: Bà Nguyễn Thị Kim T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 04875 ngày 19/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ. Bà T đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


141
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST ngày 09/01/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu: 03/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Trụ - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:09/01/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về