Bản án 19/2019/HS-ST ngày 21/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LS, TỈNH LS

BẢN ÁN 19/2019/HS-ST NGÀY 21/02/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 02 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Vi Xuân H, sinh ngày 09 tháng 09 năm 1986, tại tỉnh LS. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Q, xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trinh độ văn hoa: Lớp 07/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn B và bà Hoàng Mai T; vợ con: Có vợ là Vương Thị Thu A và 01 con sinh năm 2016; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích tại bản án số 08/2009/HSST ngày 08/4/2009; nhân thân: Năm 2004, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản tại bản án số 70/HS-ST ngày 28/4/2004; năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 36/2009/HSST ngày 13/4/2009. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/11/2018, tạm giam từ ngày 26/11/2018 đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Ngọc Trường C, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số 87, đường ND, khối

2, phường ĐK, thành phố LS, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

2. Ông Trịnh Văn O, sinh năm 1959. Nơi cư trú: Số 63, S, khối 15, phường HVT, thành phố LS, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nông Anh I, sinh năm 1989. Nơi đăng ký HKTT: Số 33/2, đường MS, phường VT, thành phố LS, tỉnh Lạng Sơn. Tạm trú tại: Khối 10, thị trấn CL, huyện CL, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

2. Anh Trịnh Minh E, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số 63, đường S, khối 15, phường HVT, thành phố LS. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Hoàng Mai T, sinh năm 1961. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong các ngày 22, 23/11/2018 Vi Xuân H đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể các lần trộm cắp tài sản như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 15 giờ ngày 22/11/2018, Vi Xuân H đi bộ một mình từ quán điện tử X 2 tại đường V, phường ĐK, thành phố LS đến khu vực gần nhà hàng "Gà đồi 88" tại số 87, đường ND, phường ĐK, thành phố LS, bị cáo thấy 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, trắng, biển kiểm soát 12P1-9618 dựng trước cửa nhà hàng, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát thấy xung quanh vắng người, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Bị cáo đến gần chiếc xe rồi lên xe, mở khóa, nổ máy và điều khiển xe đến nhà anh Nông Anh I là bạn của bị cáo. Tại đây, bị cáo nhận chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, trắng, biển kiểm soát 12P1-9618 là của bị cáo và đề nghị đặt xe lại làm tin để vay của anh Nông Anh I 3.600.000 đồng không làm giấy tờ vay mượn. Số tiền có được, bị cáo đã tiêu xài cá nhân và chơi điện tử hết.

Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 20 phút, ngày 23/11/2018, bị cáo đi bộ lang thang tại khu vực đường S, phường HVT, thành phố LS thì thấy trước cửa số nhà 63, đường S, phường HVT, thành phố LS có dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12P1-9567, chìa khóa xe vẫn cắm ở ổ khóa điện. Quan sát thấy xung quanh vắng người, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Bị cáo đến gần chiếc xe rồi lên xe, mở khóa, nổ máy và điều khiển xe đến quán điện tử X 2. Tại tầng hầm của quán điện tử, bị cáo tháo biển số xe, cất vào trong cốp. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo bị cơ quan điều tra phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.

Tại biên bản định giá tài sản số 197/ĐGTSTT và 198/ĐGTSTT ngày 23/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố LS xác định:

- Xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, trắng, biển kiểm soát 12P1-9618 trị giá 8.100.000đ (tám triệu một trăm nghìn đồng);

- Xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen bạc, biển kiểm soát 12P1-9567, trị giá 5.100.000đ (năm triệu một trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 22 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố LS đã truy tố bị cáo Vi Xuân H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Xuân H thừa nhận toàn bộ 02 hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và tự nguyện trả cho anh Nông Anh I số tiền 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) đã vay.

Bị hại anh Ngọc Trường C vắng mặt tại phiên tòa. Tại các bản khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ngọc Trường C trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, trắng, biển kiểm soát 12P1-9618 là tài sản do anh mua từ năm 2011 với giá 27.000.000đ (hai mươi bảy triệu đồng). Ngày 22/11/2018, anh để xe trước cửa quán Gà đồi 88 tại số 87, đường ND, phường ĐK, thành phố LS thì bị mất trộm. Ngày 26/11/2018, anh đã được cơ quan điều tra trả lại xe. Nay anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì.

Tại các bản khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, ông Trịnh Văn O trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12P1-9567 là tài sản của con trai ông là anh Trịnh Minh E cho ông mượn sử dụng từ đầu năm 2018. Ngày 23/11/2018, ông để xe trước cửa nhà tại số 63, S, phường HVT, thành phố LS thì bị mất trộm. Ngày 04/12/2018, ông đã được cơ quan điều tra trả lại xe. Nay ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Anh I vắng mặt tại phiên tòa. Tại các bản khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nông Anh I trình bày: Ngày 22/11/2018, bị cáo Vi Xuân H vay anh 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và đặt lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đen, trắng, biển kiểm soát 12P1-9618 để làm tin, không làm giấy tờ vay, không thỏa thuận thời gian trả và lãi xuất. Ngày hôm sau, thông qua mạng xã hội Facebook, anh phát hiện chiếc xe này là do bị cáo trộm cắp mà có nên anh đã tự nguyện giao nộp xe cho cơ quan điều tra. Nay, anh yêu cầu bị cáo trả lại anh số tiền 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng) đã vay của anh.

Tại các bản khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trịnh Minh E trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 12P1-9567 là tài sản của anh, nguồn gốc xe là vào năm 2011 bố anh là ông Trình Văn O mua cho với giá 19.000.000đ (mười chín triệu đồng), đăng ký xe mang tên anh. Do không có nhu cầu sử dụng nên từ đầu năm 2018, anh cho ông Trịnh Văn O mượn xe để sử dụng. Ngày 23/11/2018, chiếc xe trên bị mất trộm. Nay, cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc xe và trả lại cho ông Trịnh Văn O nên anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì.

Người làm chứng bà Hoàng Mai T trình bày: Bà là mẹ đẻ của bị cáo Vi Xuân H, tên khai sinh của bà là Hoàng Mai T, ngày sinh đúng của Vi Xuân H là ngày 09/9/1986. Năm 1991, ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh LS đã ghi nhầm tên bà là Hoàng Thị T và nhầm ngày sinh của Vi Xuân H là 17/10/1986. Năm 2009 bà đã làm lại sổ hộ khẩu theo đúng tên gọi trong giấy khai sinh là Hoàng Mai T và ngày sinh của Vi Xuân H là 09/9/1986.

Tại phiên tòa đại điện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LS giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vi Xuân H phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Xuân H từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải trả cho anh Nông Anh I 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 22, 23/11/2018, bị cáo Vi Xuân H đã có hai hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản trộm cắp là 13.200.000đ (mười ba triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố LS truy tố bị cáo Vi Xuân H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của các chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích nhằm đem bán lấy tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn thành phố.

[4] Về nhân thân: Bị cáo được gia đình tạo điều kiện cho ăn học đến lớp 07/12, có sức khỏe tuy nhiên do thiếu tu dưỡng, lười lao động, nghiện ma túy, đã vi phạm pháp luật và bị Tòa án các cấp xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vi Xuân H có hai lần trộm cắp tài sản, những lần trộm cắp này đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng "Phạm tội 02 lần trở lên", bị cáo có 01 tiền án năm 2009 về tội Cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích do chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng "Tái phạm" được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân, mức hình phạt, xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định.

[8] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả thiệt hại gây ra, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Hội đồng xét xử xem xét, quyết định một mức án tương xứng với hành vi phạm tội đó là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định, đủ để bị cáo có thời gian tập trung cải tạo và trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời cũng đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 26/12/2018 và ngày 28/12/2018 thể hiện bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng: Ngày 26/11/2018 và ngày 04/12/2018 Cơ quan điều tra đã trả lại 02 chiếc xe mô tô cho các chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về trách nhiệm dân sự: Tại đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Anh I yêu cầu bị cáo trả lại cho anh số tiền 3.600.000 đồng đã vay anh và không yêu cầu trả lãi. Xét thấy yêu cầu của anh Nông Anh I là có căn cứ và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với yêu cầu trên của anh Nông Anh I. Do đó, cần buộc bị cáo trả cho anh Nông Anh I 3.600.000 đồng và không phải trả lãi theo quy định tại Điều 584; Điều 585, Điều 586; Điều 589 và 468 Bộ luật Dân sự.

[12] Anh Ngọc Trường C, ông Trịnh Văn O, anh Trịnh Văn E đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm. Hội đồng xét xử không đề cập, xem xét giải quyết.

[13] Đối với anh Nông Anh I có hành vi nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12P1-9618 để cho bị cáo vay tiền, do anh Nông Anh I không biết chiếc xe là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có và việc vay tiền không thỏa thuận rõ ràng về thời gian trả tiền và không có căn cứ chứng minh lãi suất vay nên Cơ quan điều tra không khởi tố với vai trò đồng phạm mà xử phạt hành chính về hành vi cầm cố tài sản đối với anh Nông Anh I là có căn cứ.

[14] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 và 468 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vi Xuân H phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vi Xuân H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/11/2018.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo trả lại cho anh Nông Anh I số tiền 3.600.000đ (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bên được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành không trả số tiền nêu trên, thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Bị cáo Vi Xuân H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách Nhà Nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

"Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

79
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HS-ST ngày 21/02/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:19/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về