Bản án 19/2019/HS-ST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 19/2019/HS-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ HÀNG CẤM

Ngày 10 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện GT, tỉnh NĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Ch- Sinh năm 1986, tại xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ; nơi cư trú: Xóm Thanh Long, xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ. Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Tiến L (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; Vợ là Trần Thị H, sinh năm 1989; có 01 con sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam tính từ ngày bị bắt tạm giữ 27/01/2019 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện GT, tỉnh NĐ.

- Người làm chứng:

1. Anh Phạm Văn Ch - Sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm 8 xã GL, huyện GT, tỉnh NĐ.

2. Anh Bùi Văn Đ - Sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm M, xã PP, huyện LL, tỉnh HB. 

3. Chị Trần Thị H - Sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm TL, xã GT, huyện GT, tỉnh NĐ.

4. Ông Bùi Long B - Sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm 17 xã GL, huyện GT, tỉnh NĐ.

Tại phiên tòa: Có mặt bị cáo và chị H; những người làm chứng còn lại đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 27/01/2019, tổ công tác Công an huyện Giao Thủy tuần tra tại khu vực xóm 17 xã GL, huyện GT, tỉnh NĐ phát hiện Trần Văn Ch đang điều khiển xe máy, không biển kiểm soát phía sau chở 01 thùng xốp có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Ch, quá trình kiểm tra Ch đã giao nộp 01 thùng xốp bên trong chứa 04 hình hộp có 49 ống hình trụ tròn được kết nối với nhau, bên ngoài bọc giấy nhiều màu (Ch khai nhận là pháo nổ) của Đỗ Văn Đ, sinh năm 1993, trú tại xóm 17, xã Giao Lạc, huyện Giao thủy, gửi về cho Ch theo nhà xe Trường Sơn, chạy tuyến Giao Lạc - Giao Thủy - Hòa Bình để Chcất giấu hộ. Chđang mang số pháo trên về nhà cất giấu thì bị phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ số pháo trên niêm phong ký hiệu M và 01 xe máy Dream II màu nâu, không biển kiểm soát.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Chung, Cơ quan điều tra còn thu giữ tại gian bếp nhà Ch 01 túi nilông mầu trắng bên trong có chứa 16 cuộn giấy màu đỏ, hình trụ, một đầu bịt kín, đầu còn lại nối với một dây cháy chậm được niêm phong ký hiệu K (Chkhai nhận là pháo nổ) và 01 điện thoại Samsung màu vàng cát có 02 sim.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm pháp của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định số: 139/KTHS ngày 28/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận:

- Mẫu ký hiệu M là pháo, có đặc tính của pháo nổ (chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 7,432 kg.

- Mẫu ký hiệu K là pháo nổ (khi đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 0,027 kg.

- Tổng khối lượng các mẫu gửi giám định ký hiệu M, K là: 7,459 kg”.

Bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 20/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Trần Văn Ch về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép 04 hộp pháo nổ loại dàn 49 quả và 16 quả pháo, tổng trọng lượng là 7,459 kg (cất giấu hộ và để đốt). Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn Ch phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 chiếc thùng xốp.

Bị cáo Trần Văn Ch nói lời sau cùng: Bị cáo trình bày bản thân nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ của mình là phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Ngày 27/01/2019, Trần Văn Ch điều khiển xe máy chở 04 hộp pháo nổ, loại dàn 49 quả, tổng khối lượng 7,432 kg thì bị bắt quả tang và trước đó cất giấu tại nơi ở của mình 16 quả pháo nổ có tổng khối lượng 0,027 kg, mục đích cất giấu hộ và để sử dụng (đốt). Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước trong sản xuất và quản lý pháo, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế của mỗi gia đình, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, để giáo dục riêng đối với bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm nói Chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vợ bị cáo có đơn trình bày điều kiện gia đình khó khăn, con còn nhỏ và bị khuyết tật được chính quyền địa phương xác nhận. do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy hoàn cảnh gia đình kinh tế khó khăn, con còn nhỏ và bị khuyết tật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 chiếc thùng xốp. Đối với 01 chiếc điện thoại di động thu giữ tại gian nhà bếp của nhà bị cáo, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị H (vợ của bị cáo), bị cáo sử dụng điện thoại để liên hệ lấy pháo nhưng chị Hkhông biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị H là phù hợp. Đối với chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream II, không biển kiếm soát, quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc chiếc xe máy trên nên Cơ quan điều tra tách ra, điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Về nguồn gốc số pháo, Chkhai là của Đỗ Văn Đ nhưng hiện tại Đông không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Quá trình điều tra, Chcòn khai khoảng tháng 12/2018 Chcó hành vi đốt pháo ngoài cánh đồng gần nhà. Công an huyện Giao Thủy đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối bị cáo Ch là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Ch phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Ch 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2019.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số pháo hoàn trả mẫu vật sau giám định và 01 chiếc thùng xốp.

(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 22/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Ch phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo Trần Văn Ch có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

83
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 19/2019/HS-ST ngày 09/04/2019 về tội tàng trữ hàng cấm

Số hiệu:19/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giao Thủy - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về