Bản án 191/2018/HNGĐ-ST ngày 23/08/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 191/2018/HNGĐ-ST NGÀY 23/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 294/2018/TLST - HNGĐ ngày 20/6/2018 về việc ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kiều Thị Ngọc T, sinh năm 1984; cư trú tại: Ấp 1, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

- Bị đơn: Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1979; cư trú tại: Ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Kiều Thị Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Văn T1 chung sống với nhau năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu năm 2008. Sau khi kết hôn, chị và anh T1 về sống chung với mẹ ruột của chị tại ấp 1, thị trấn GH, anh T1 đi biển, còn chị ở nhà nội trợ, cuộc sống tương đối ổn định. Đến tháng 7/2003, sau khi chị sinh người con đầu lòng tại bệnh viện được 01 ngày thì anh T1 tự nhiên bỏ nhà đi không rỏ lý do, không nói là đi đâu, chị một mình phải nuôi con nhỏ, khi con chị được 17 tháng anh T1 trở về năn nỉ chị mướn nhà trọ ở riêng. Vì lúc đó chị vẫn còn tình cảm với anh T1 nên đồng ý, khi ở lại được 01 tháng thì chị có thai người con thứ hai nên vợ chồng về sống chung với mẹ ruột, khi người con thứ hai được 11 tháng thì anh T1 tiếp tục bỏ nhà đi cho đến khi người con thứ hai học mẫu giáo thì anh T1 trở về năn nỉ ở lại. Do một mình nuôi 02 người con không nỗi nên chị đồng ý và mướn nhà ở riêng. Nhưng chung sống không được bao lâu thì anh T1 thường xuyên nhậu, ghen tuông vô cớ, trong một lần nhậu say anh T1 chốt cửa nhà đem 02 con dí vào bếp ga để đốt, chị kéo ra được và chạy thoát, rồi về nhà mẹ ruột sống. Chị và anh T1 đã ly thân từ tháng 10/2010. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T1.

- Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, chị và anh T1 có 02 người con chung tên Ngô Minh K, sinh ngày 09/7/2003 và Ngô Minh T2, sinh ngày 20/8/2005 hiện đang sống chung với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 02 người con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng.

- Về chia tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ người khác và người khác nợ lại: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa: Chị T giữ nguyên quan điểm, không yêu cầu khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Vụ kiện giữa nguyên đơn chị Kiều Thị Ngọc T, bị đơn anh Ngô Văn T1 là vụ kiện tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T1, nhưng anh không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện của chị T. Tại phiên tòa, anh T1 vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Xét thấy: Nội dung khởi kiện của chị T thì anh T1 đã biết, nhưng anh vẫn mặc nhiên, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T1.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2002, chị T và anh T1 chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình vào năm 2014. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T1 được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo chị T xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nhưng anh T1 không có ý kiến đối với những mâu thuẫn do chị T trình bày. Như vậy, những mâu thuẫn do chị T trình bày thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định anh T1 đã chấp nhận những mâu thuẫn do chị T trình bày.

Mặt khác, tại phiên tòa chị T xác định vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, nhưng cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay chị không còn tình cảm đối với anh T1 nên chị không thể tiếp tục chung sống với anh T1 được nữa.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về quan hệ hôn nhân.

[4] Xét yêu cầu về nuôi con chung: Tại phiên tòa, chị T xác định 02 người con hiện đang sống với chị ổn định, có điều kiện phát triển bình t hường về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý. Đồng thời, hiện nay chị có thu nhập ổ n định nên đảm bảo điều kiện nuôi dạy 02 người con. Còn anh T1 không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con chung của chị T. Mặt khác, theo biên bản ghi nguyện vọng của cháu T2 ngày 18/7/2018 và ý kiến của cháu K thì 02 cháu có nguyện vọng muốn được sống chung với mẹ trong trường hợp Tòa án cho cha mẹ 02 cháu ly hôn. Như vậy, để tránh thay đổi về môi trường sống, cũng như tâm sinh lý của cháu K và cháu T, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T về việc nuôi con chung là phù hợp.

[5] Xét về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi cháu K và cháu T2, còn anh T1 không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[6] Xét về chia tài sản và nợ: Chị T xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết, còn anh T1 không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Xét về án phí hôn nhân và gia đình: Chị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 5; Điều 35; Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kiều Thị Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Kiều Thị Ngọc T được ly hôn với anh Ngô Văn T1.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Ngô Minh K, sinh ngày 09/7/2003 và Ngô Minh T2, sinh ngày 20/8/2005 cho chị Kiều Thị Ngọc T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ngô Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi cháu Ngô Minh K và Ngô Minh T2. Anh Ngô Văn T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Kiều Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lại số 0009988 ngày 20/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Kiều Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

220
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 191/2018/HNGĐ-ST ngày 23/08/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:191/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về