Bản án 190/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 190/2020/HS-ST NGÀY 25/11/2020 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 25 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 175/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa ra xét xử số 166/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020, đối với bị cáo:

Lèo Văn H, sinh năm 1994; đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Bản S, xã H, thành phố S, tỉnh S; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên cha: Lèo Văn T, sinh năm 1968; họ tên mẹ: Lò Thị M, sinh năm 1969; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; họ tên vợ: Quàng Thị H, sinh năm 1996, có 01 con nuôi sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 22/5/2020, tạm giữ từ ngày 22/5/2020 đến ngày 31/5/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Lê Ngọc A, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ dân phố An Đào, thị trấn Trâu Qùy, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

2. Anh Lương Văn V, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện V, tỉnh L.

3. Anh Lò Văn D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện T, tỉnh Đi.

 Anh Ngọc A, anh V và anh D đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 15 ngày 22/5/2020, Đội CSĐTTP về Ma túy, Công an huyện Gia Lâm phối hợp với Công an xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Gia Cốc, Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội bắt quả tang Lèo Văn H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Ngọc A, Lương Văn V và Lò Văn D. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc.

- Vật chứng thu giữ của Lèo Văn H gồm:

+ 01 túi ni lông màu trắng được quấn ngoài băng dính màu đen kích thước khoảng (3,5 x 3) cm bên trong có chứa 10 gói nhỏ (08 gói được bọc ni lông màu xanh da trời, 02 gói được bọc ni lông màu xanh lá cây) bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (BL 40).

+ 01 túi ni lông màu trắng được quấn bằng băng dính màu đen kích thước khoảng (4,5 x 4) cm bên trong có chứa 20 gói nhỏ (trong đó có 07 gói nhỏ được bọc bằng ni lông màu xanh lá cây và 13 gói nhỏ được bọc bằng ni lông màu xanh da trời) bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng (BL 42).

+ 01 túi ni lông màu trắng được quấn bằng băng dính màu đen kích thước khoảng (6x3) cm bên trong có 01 ni lông màu trắng kích thước khoảng (3x4)cm bên trong có chứa 20 viên nén hình tròn màu hồng và 02 túi ni lông màu trắng kích thước mỗi túi khoảng (1,5 x 1,5)cm bên trong 02 túi đều chứa tinh thể màu trắng (BL 42).

+ 01 túi ni lông màu trắng được quấn băng dính màu đen kích thước khoảng (6x3)cm bên trong có chứa 18 gói nhỏ trong đó có 08 gói nhỏ được bọc ngoài bằng nilon màu xanh da trời và 10 gói nhỏ được bọc bằng ni lông màu xanh lá cây, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (BL 42).

+ Số tiền 500.000 đồng.

+ 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo F1 màu xanh tím than đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0388957345 và số 0934509655 (BL 65).

- Vật chứng thu giữ của Lê Ngọc A: 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 0968048780 (BL96).

- Vật chứng thu giữ của Lương Văn V: 01 máy điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong máy lắp các sim số 033.322.9444 và sim số 034.918.1996 (BL 111).

- Vật chứng thu giữ của Lò Văn D: 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 036.906.6947 (BL 124).

Tại Kết luận giám định số 4103/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội ngày 29/05/2020 kết luận:

+ Chất bột màu trắng bên trong 10 gói nilon (8 gói nilon xanh da trời và 02 gói nilon xanh là cây) đều là ma túy Heroine, tổng khối lượng 0,716 gam:

+ Chất bột màu trắng bên trong 38 gói nilon (21 gói nilon xanh da trời; 12 gói xanh lá cây) đều là Heroine, tổng khối lượng 2,708 gam:

+ Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi ni lông đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,458 gam:

+ 20 viên nén hình tròn màu hồng bên trong 01 túi ni lông đều là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng 1,990 gam.

Ngày 23/5/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Gia Lâm đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Lèo Văn H tại Gia Cốc, Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội nhưng không phát hiện và thu giữ vật gì liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra, Lèo Văn H khai nhận: Bản thân H là đối tượng nghiện ma túy. Chiều ngày 22/5/2020, H mua 04 túi ma túy các loại với giá 6.000.000 đồng của một người đàn ông có tên Tuấn ở khu vực cầu vượt xã Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội với mục đích chia nhỏ bán cho các đối tượng nghiện hút kiếm lời. Khoảng 17 giờ 30 cùng ngày, khi H đang ở phòng trọ mà H thuê tại địa chỉ số 307 Gia Cốc, Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội thì nhận được điện thoại Lê Ngọc A, Lương Văn V, Lò Văn D. Qua điện thoại, Ngọc A hỏi mua 500.000 đồng ma túy các loại; Vhỏi mua 200.000 đồng ma túy loại heroin và Du hỏi mua 200.000 đồng ma túy loại heroine. H đồng ý và bảo Ngọc A, Vũ, Du đến phòng trọ của H. Đến khoảng 18 giờ 15 phút, Lê Ngọc A cùng 01 nam thanh niên lạ mặt đến phòng trọ của H hỏi mua 200.000 đồng ma túy “đá”, 200.000 đồng ma túy heroine và 100.000 đồng ma túy “ngựa”. H đồng ý bán ma túy cho Ngọc A và nam thanh niên này. Ngọc A để số tiền 500.000 đồng lên bàn uống nước trong phòng trọ của H, H đếm tiền thấy đủ nên lấy 01 túi ni lông màu trắng được quấn bên ngoài bằng băng dính màu đen có kích thước khoảng (3 x 3,5)cm bên trong có chứa 08 (tám) gói nhỏ bọc ngoài bằng ni lông màu xanh da trời, 02 (hai) gói nhỏ bọc ngoài bằng ni lông màu xanh lá cây, bên trong các gói đều chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroine. H lấy ra 02 gói ni lông màu xanh chứa ma túy Heroine cùng 02 gói ma túy “đá” và 01 viên ma túy “ngựa” để bán cho Ngọc A nhưng chưa kịp đưa cho Ngọc A thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra bắt quả tang. Lúc này, nam thanh niên đi cùng Ngọc A bỏ chạy thoát còn H và Ngọc A bị lực lượng công an giữ lại. Đúng lúc đó, Lương Văn V và Lò Văn D cũng đến phòng trọ của H để mua ma túy. Cơ quan Công an đã đưa H, Ngọc A, Vvà Du về trụ sở để làm rõ.

Ngoài ra, Lèo Văn H còn khai nhận: H bắt đầu bán ma túy từ ngày 10/5/2020 cho các đối tượng không rõ tên, tuổi địa chỉ. Số tiền thu lời từ việc bán ma túy cho những người này, H không xác định được. Trước khi bị Cơ quan điều tra, Công an huyện Gia Lâm bắt quả tang; vào ngày 21/5/2020, H đã bán cho Lê Ngọc A 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng và bán cho Lương Văn V 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy Heronine với giá 200.000 đồng. Số ma túy này Ngọc A đã làm mất còn Vđã sử dụng một mình hết.

Đối với Lương Văn V và Lò Văn D qua xét nghiệm đều dương tính với chất ma túy. Bản thân các đối tượng đều khai nhận trước đó có sử dụng chất ma túy. Do vậy, Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lương Văn V và Lò Văn D.

Đối với Lê Ngọc A qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy. Ngày 21/5/2020, Ngọc A mua 01 gói ma túy của H với giá 200.000 đồng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị mất. Ngày 22/5/2020, tại quán nước ven đường ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, Ngọc A gặp một người nam thanh niên không rõ lai lịch, qua trao đổi, Ngọc A biết người này cũng có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Do đó, Ngọc A đã cùng người này đến nhà trọ của H để mua ma túy về sử dụng. Tại cửa nhà trọ, nam thanh niên này đưa cho Ngọc A số tiền 200.000 đồng và Ngọc A bỏ thêm 300.000 đồng. Ngọc A cầm số tiền 500.000 đồng vào trao đổi mua bán ma túy với H nhưng chưa kịp mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Lê Ngọc A.

Đối với nam thanh niên góp tiền và đi cùng với Lê Ngọc A đến mua ma túy của H, Ngọc A không biết tên, tuổi địa chỉ của người này. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng có tên Tuấn là người đã bán ma túy cho H và các đối tượng đã mua ma túy của H trong khoảng thời gian từ ngày 10/5/2020 đến ngày 21/5/2020, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo F1 màu xanh tím than đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0388957345 và số 0934509655 tạm giữ của Lèo Văn H; 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 0968048780 tạm giữ của Lê Ngọc A; 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong máy lắp các sim số 033.322.9444 và sim số 034.918.1996 tạm giữ của Lương Văn V; 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 036.906.6947 thu giữ của Lò Văn D. Đây là 04 chiếc điện thoại mà Ngọc A, Du, Vũ, H sử dụng vào mục đích liên lạc, trao đổi để mua bán chất ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 177/CT-VKSGL ngày 21 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Lèo Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lèo Văn H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2020; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo F1 màu xanh tím than đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0388957345 và số 0934509655 thu giữ của bị cáo; buộc bị cáo H phải truy nộp số tiền 600.000 đồng là tiền thu được từ hành vi bán ma túy; tịch thu, nộp Ngân sách nhà nước:

01 điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 0968048780 thu giữ của Lê Ngọc A, 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong máy lắp các sim số 033.322.9444 và sim số 034.918.1996 thu giữ của Lương Văn V và 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 036.906.6947 thu giữ của Lò Văn D.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Ngọc A, Lương Văn V và Lò Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra. Xét thấy việc vắng mặt của anh Ngọc A, anh Vvà anh D không gây trở ngại cho việc xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Ngọc A, anh Vvà anh D.

[3] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của Lê Ngọc A, Lương Văn V và Lò Văn D, lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 10/5/2020 đến ngày 21/5/2020, tại thôn Gia Cốc, xã Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, Lèo Văn H có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng/gói cho Lê Ngọc A, 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng/gói cho Lương Văn V và bán cho các đối tượng khác không rõ nhân thân, lai lịch. Vào hồi 18 giờ 15 phút ngày 22/5/2020, sau khi H đã nhận tiền và đang giao số ma túy có giá 500.000 đồng cho Lê Ngọc A cùng 01 (một) đối tượng không rõ nhân thân đồng thời chuẩn bị bán ma túy cho các đối tượng khác thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Ngoài ra, H còn giao nộp cho Cơ quan Công an số ma túy đang tàng trữ với mục đích chia nhỏ để bán cho các đối tượng khác. Tổng số ma túy thu giữ của H là 3,424 gam Heroine và 2,448 gam Methamphetamine (tổng khối lượng là 5,872 gam ma túy). Tổng số tiền H đã thu được từ việc bán ma túy được xác định là 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c và điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo theo điểm b, c và điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[4.1] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Heroine và Methamphetamine là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và huỷ hoại sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma tuý và tội phạm may tuý. Bị cáo nhận thức được đầy đủ về tác hại của ma tuý nhưng vẫn tham gia mua bán trái phép nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma tuý trong đời sống xã hội.

[4.2] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Như vậy, bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm về việc áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[4.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với tình tiết “ Phạm tội 02 lần trở lên” đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự nên theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự thì không được coi là tình tiết tặng nặng để áp dụng đối với bị cáo. Do vậy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm tại phiên toà là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo F1 màu xanh tím than đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số 0388957345 và số 0934509655 thu giữ của bị cáo là phương tiện, tiền bạc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo H phải truy nộp số tiền 600.000 đồng là tiền thu được từ hành vi bán ma túy của bị cáo.

Đối với 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 0968048780 thu giữ của Lê Ngọc A, 01 chiếc điện thoại hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng, bên trong máy lắp các sim số 033.322.9444 và sim số 034.918.1996 thu giữ của Lương Văn V và 01 điện thoại nhãn hiệu Itel màu đen đã qua sử dụng lắp sim số 036.906.6947 thu giữ của Lò Văn D là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các nội dung khác:

Đối với Lương Văn V và Lò Văn D qua xét nghiệm đều dương tính với chất ma túy. Bản thân các đối tượng đều khai nhận trước đó có sử dụng chất ma túy. Do vậy, Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Lương Văn V và Lò Văn D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lê Ngọc A qua xét nghiệm âm tính với chất ma túy. Ngày 21/5/2020, Ngọc A mua 01 gói ma túy của H với giá 200.000 đồng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị mất. Ngày 22/5/2020, tại quán nước ven đường ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, Ngọc A gặp một người nam thanh niên không rõ lai lịch, qua trao đổi, Ngọc A biết người này cũng có nhu cầu mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Do đó, Ngọc A đã cùng người này đến nhà trọ của H để mua ma túy về sử dụng. Tại cửa nhà trọ, nam thanh niên này đưa cho Ngọc A số tiền 200.000 đồng và Ngọc A bỏ thêm 300.000 đồng. Ngọc A cầm số tiền 500.000 đồng vào trao đổi mua bán ma túy với H nhưng chưa kịp mua thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ. Do đó, Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Lê Ngọc A nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với nam thanh niên góp tiền và đi cùng với Lê Ngọc A đến mua ma túy của H, Ngọc A không biết tên, tuổi địa chỉ của người này. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng có tên Tuấn là người đã bán ma túy cho H và các đối tượng đã mua ma túy của H trong khoảng thời gian từ ngày 10/5/2020 đến ngày 21/5/2020, do không xác định được nhân thân, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lèo Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm b, c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lèo Văn H 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2020.

2.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3.1. Tịch thu, tiêu huỷ:

+ 10 gói nilông mầu xanh (trong đó 08 (Tám) gói nilông mầu xanh da trời và 02 (Hai) gói nilông mầu xanh lá cây), bên trong đều là ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,673 gam (đã trích mẫu giám định 0,043 gam), đựng trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lèo Văn H, cán bộ niêm phong, Giám định viên, do Phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định.

+ 38 gói nilông (trong đó 21 (Hai mươi mốt) gói nilông mầu xanh da trời và 17 (Mười bảy) gói nilông mầu xanh lá cây), bên trong đều là ma túy Heroine, có tổng khối lượng 2,559 gam (đã trích mẫu giám định 0,149 gam); Tinh thể màu trắng bên trong 02 (Hai) túi nilông, đều là ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,385 gam (đã trích mẫu giám định 0,073 gam); Các viên nén hình tròn màu hồng, đều là ma túy Methamphetamine, tổng khối lượng 1,688gam (đã trích mẫu giám định 0,302 gam), tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lèo Văn H, cán bộ niêm phong, Giám định viên, do Phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định.

3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 500.000 đồng (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm đang quản lý theo Biên lai thu tiền số AA/2010/0001945 ngày 28/10/2020) và 01 điện thoại di động hiệu Vivo F1 màu xanh tím than, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo H.

3.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc A.

3.4. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lương Văn V.

3.5. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu đen, bên trong lắp sim liên lạc, máy cũ đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn D.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm ngày 26/10/2020).

3.6. Buộc bị cáo H phải truy nộp số tiền 600.000 đồng.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

Bị cáo Lèo Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Ngọc A, Lương Văn V và anh Lò Văn D có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

214
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 190/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:190/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lâm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về