Bản án 190/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 190/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 406/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2019/QĐXX-ST ngày 30 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp VH, xã VHHN, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Võ Xí N, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện ngày 23/9/2019 chị Phạm Thị N trình bày:

Hôn nhân: Bà N và ông N tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 24/8/2015. Thời gian chung sống không hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống nên bà N và ông N đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Do đó, bà N yêu cầu ly hôn với ông N.

Con chung: Bà N xác định trong thời gian chung sống bà N và ông N không có con chung nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

Tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp:

[1] Bà Phạm Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là ông Võ Xí N. Do bà N và ông N chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông N có nơi cư trú tại ấp A, xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình vắng mặt có lý do, ông Võ Xí N được Tòa án triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, bà N xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 1 Điều 232, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, bà N, ông N.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Võ Xí N tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 24/8/2015. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông N đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tại đơn khởi kiện bà N yêu cầu ly hôn với ông N. Lí do bà N cho rằng thời gian chung sống ông bà không hợp nhau do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà N và ông N có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông N vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Phạm Thị N và ông Võ Xí N được ly hôn là phù hợp.

[4] Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định thời gian chung sống vợ chồng ông bà không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Tại xác nhận ngày 23/9/2019 của Ủy ban nhân dân xã TLB, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận tại thời điểm xác nhận bà N và ông N không có bị ai thưa kiện về nợ tại xã. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải chịu án phí Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Xét xử vắng mặt đối với bà Phạm Thị N và ông Võ Xí N.

2. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị N về việc ly hôn với ông Võ Xí N.

2.1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị N và ông Võ Xí N được ly hôn.

2.2. Về con chung: Không có.

2.3. Tài sản chung và nợ chung: Không có. 3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 24 tháng 9 năm 2019 chị Nguyên có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010722 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bản án này là sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 190/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:190/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về