Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 11/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, TP. HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 188/2018/HNGĐ-ST NGÀY 11/12/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 11 tháng 12 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 720/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 223/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị D, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã P, huyện T, thành phố H; nơi ở hiện nay: Làng M, xã B, huyện N, tỉnh T; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Đinh Khắc T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện T, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2018 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Hà Thị D trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị D và anh Đinh Khắc T kết hôn với nhau vào năm 2012 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 13/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố H. Sau cưới, chị chuyển khẩu về gia đình anh T sinh sống tại thôn A, xã P. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận và có 01 con chung, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra va chạm. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình tham gia hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ cuối năm 2016, anh T không tìm gọi về đoàn tụ, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay và không còn quan tâm nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm, không còn khả năng đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh T.

2. Về con chung:

Chị D trình bày chị và anh T có một con chung tên là Đinh Thị N sinh ngày 30/7/2013. Anh T trực tiếp nuôi con từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Khi ly hôn, chị đề nghị anh T tiếp tục nuôi con. Cấp dưỡng nuôi con chung để chị và anh T tự thỏa thuận giao nhận với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung:

Chị D trình bày chị và anh T không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Anh Đinh Khắc T là bị đơn trong vụ án, cho đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai vẫn không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, nguyên đơn chấp hành pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về hôn nhân: Chị Hà Thị D được ly hôn anh Đinh Khắc T; về con chung: Giao cho anh Đinh Khắc T trực tiếp nuôi con chung tên là Đinh Thị N sinh ngày 30/7/2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Hà Thị D vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn là anh Đinh Khắc T vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị D và anh Đinh Khắc T đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 72 đăng ký ngày 13/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, thành phố H). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh tại địa phương thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2016 và sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Anh T vẫn sinh sống, làm việc tại gia đình và địa phương xã P, biết việc chị D xin ly hôn tại Tòa án song anh T không trình bày quan điểm của mình. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị D yêu cầu ly hôn, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị D được ly hôn anh T.

[3]. Về con chung: Chị D và anh T có một con tên là Đinh Thị N sinh ngày 30/7/2013. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Xét thấy, anh T trực tiếp nuôi con từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, việc nuôi con đã ổn định và được đảm bảo tốt về mọi mặt, khi ly hôn chị D đề nghị anh T tiếp tục nuôi con, anh T không có ý kiến. Do vậy, cần giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi là phù hợp với các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D đề nghị để chị và anh T tự thỏa thuận giao nhận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị D trình bày chị và anh T không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[6]. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Hà Thị D được ly hôn anh Đinh Khắc T.

2. Về con chung: Giao cho anh Đinh Khắc T trực tiếp nuôi con tên là Đinh Thị N sinh ngày 30/7/2013 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hà Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000007 ngày 10/10/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Hà Thị D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


107
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 188/2018/HNGĐ-ST ngày 11/12/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:188/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/12/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về