Bản án 182/2019/HS-PT ngày 21/11/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 182/2019/HS-PT NGÀY 21/11/2019 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 151/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 485/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Hoài N, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10/9/1987; Nơi ĐKHKTT: Tổ 6, phường PĐP, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Kinh Doanh; văn hoá: 12/12; con ông Nguyễn Quốc T và bà Trần Thị Th; có vợ là Lê Thị Hg; có 02 con; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2018 đến ngày 18/3/2019, được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Đào Minh H; tên gọi khác: không; sinh ngày 15/9/1989; Nơi cư trú: Tổ 12, phường TV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 12/12; con ông Đào Văn Đ (đã chết) và bà Bùi Thị H1; bị tạm giam từ ngày 25/10/2018 đến ngày 27/5/2019, được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt tại phiên tòa. Tiền án, tiền sự: không có.

Nhân thân:

- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 350 ngày 17/11/2006, Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên xử phạt 75.000đ về hành vi: “Trộm cắp tài sản” (nộp phạt ngày 28/11/2006);

- Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 318 ngày 04/8/2011, Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên xử phạt 1.500.000đ về hành vi: “Đánh bạc” (đã nộp phạt ngày 04/8/2011).

Trong vụ án này còn có 03 bị cáo khác, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị, vắng mặt do Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/9/2018 anh Nguyễn Đình M vay của Nguyễn Hoài N số tiền 50 triệu đồng bằng hình thức "bốc họ", N đưa cho M 45 triệu đồng và cắt lại 05 triệu đồng tiền lãi, mỗi ngày anh M phải trả cho N 01 triệu đồng trong thời gian 50 ngày. Ngày 14/9/2018 anh M tiếp tục vay N 50 triệu đồng với hình thức vay như trên. Để đảm bảo việc M trả tiền, N yêu cầu anh M viết giấy thuê xe ô tô biển kiểm soát 20A - 096.05 là xe của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983, trú tại tổ 12, phường TV, thành phố TN cho N mượn, để nếu M không trả tiền thì N sẽ sử dụng giấy thuê xe để tố cáo M ra cơ quan pháp luật, đồng thời N yêu cầu M viết 01 giấy vay số tiền 50 triệu đồng.

Anh M đã trả được 05 triệu đồng còn nợ N 95 triệu đồng, ngày 17/9/2018 anh M có đơn xin nghỉ việc tại UBND phường Túc Duyên với lý do để chữa bệnh và bỏ đi khỏi gia đình. N nhiều lần đến nhà ông Nguyễn Đình C, bà Lê Thị Thiên Ng là bố mẹ đẻ của anh M tại cửa hàng tạp hóa "Ng C", tại tổ 10, phường QT, thành phố TN để tìm M đòi nợ. N đã yêu cầu ông bà Ng C pH có trách nhiệm trả số tiền 95 triệu đồng mà M đã vay của N, ông bà Ng C không đồng ý.

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9/2018 đến ngày 21/10/2018 N giao cho Đào Minh H chỉ đạo Nguyễn Thế Ch, Triệu Minh T, Hoàng Ngọc Kh hàng ngày chia làm 02 ca, buổi sáng từ 09h00 đến 11h30, buổi chiều từ 16h00 đến 17h30 đến cửa hàng tạp hóa của gia đình ông bà Ng C để đe dọa, chửi bới xúc phạm danh dự gia đình ông bà Ng C, cản trở, đuổi không cho khách hàng vào mua hàng, nhằm mục đích uy hiếp tinh thần, buộc ông bà Ng C phải trả tiền thay cho anh M.

Sáng ngày 07/10/2018 và ngày 09/10/2018 Đào Minh H, Nguyễn Ngọc Kh đã trực tiếp ném chất bẩn gồm mắm tôm, sơn, dầu luyn vào cửa nhà ông bà Ng C. Ngoài ra Nguyễn Hoài N còn thường xuyên trực tiếp tham gia đến đòi nợ trong các ngày 06, 10, 12/10/2018 và ngày 20/10/2018. Ngày 21/10/2018 khi Đào Minh H, Triệu Minh T, Nguyễn Thế Ch, Hoàng Ngọc Kh đang có hành vi chửi bới, gây sức ép cho ông bà Ng C thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên mời về Cơ quan Công an làm việc.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 viên gạch lát vỉa hè hình lục giác có bám chất màu nâu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển kiểm soát 98B1 - 190.43; 01 điện thoại di động Iphone5 màu trắng (tạm giữ trong quá trình khám xét); 01 đĩa DVD sao lưu hình ảnh trong điện thoại của Hoàng Ngọc Kh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung tạm giữ của Nguyễn Thế Ch; 01 điện thoại di động màu đen đã cũ tạm giữ của Đào Minh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu ZONO màu vàng tạm giữ của Triệu Minh T; 01 thẻ ATM mang tên Nguyễn Hoài N.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 485/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”;

Căn cứ vào: điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;

1. Xử phạt Nguyễn Hoài N 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tam giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2018 đến ngay 18/3/2019.

2. Xử phạt Đào Minh H 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian tam giữ, tạm giam từ ngày 25/10/2018 đến ngay 27/5/2019.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Ngày 27/9/2019, bị cáo Nguyễn Hoài N kháng cáo với nội dung xin giảm án là được cải tạo không giam giữ; bị cáo Đào Minh H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Phần kết luận tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất vụ án, vai trò của các bị cáo trong vụ án. Trong vụ án này Nguyễn Hoài N thực hiện tội phạm với vai trò là người chủ mưu nên N phải chịu trách nhiệm hình sự chính trong vụ án, Đào Minh H được N giao trực tiếp chỉ đạo các bị cáo Ch, T, Kh thực hiện việc cưỡng đoạt tài sản, H phải chịu trách nhiệm hình sự thứ hai sau N, mức án Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, vì vậy không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định và đúng theo thủ tục quy định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đào Minh H có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị ốm tuy nhiên bị cáo không có giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, bị cáo Nguyễn Hoài N vắng mặt không có lý do. Đây là phiên tòa mở lần thứ hai, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đối với các bị cáo, sau khi nghe ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử đã thảo luận và quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Hoài N, Đào Minh H và các bị cáo khác đều khai nhận: Do anh Nguyễn Đình M nợ Nguyễn Hoài N số tiền 95 triệu đồng, nên N đã chỉ đạo Đào Minh H, Nguyễn Thế Ch, Triệu Minh T, Hoàng Ngọc Kh nhiều lần ném chất bẩn vào cửa hàng nhà ông C bà Ng là bố mẹ đẻ của anh M, nhiều lần đến đe dọa, chửi bới, xúc phạm ông C, bà Ng, xua đuổi khách, không cho mua hàng tại cửa hàng tạp hóa của ông bà, uy hiếp về tinh thần, gây sức ép, nhằm mục đích buộc ông C, bà Ng trả số tiền 95.000.000 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, dữ liệu hình ảnh thu được từ camera do bị hại giao nộp và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Hi đồng xét xử thấy, bị cáo N là người khởi xướng, chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện hành vi phạm tội, mục đích lấy được tiền về cho N, bị cáo Đào Minh H có nhân thân xấu, năm 2006 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; năm 2011 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, mức án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[4]. Xét kháng cáo của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ, tạo dư luận xấu trong xã hội. tại cấp phúc thẩm các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[5]. Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 485/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H phạm tội: “Cưỡng đoạt tài sản”.

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2018 đến ngày 18/3/2019.

- Xử phạt bị cáo Đào Minh H 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành bản án, được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 25/10/2018 đến ngày 27/5/2019.

2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoài N và Đào Minh H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 485/2019/HSST ngày 16/9/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 182/2019/HS-PT ngày 21/11/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:182/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 21/11/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về