Bản án 18/2020/HS-ST ngày 25/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M L, TỈNH S L

BẢN ÁN 18/2020/HS-ST NGÀY 25/05/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh S L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

MAD, sinh ngày 19/3/1986, tại PT, ML, SL; Nơi ĐKHKTT: Bản NT, xã PT, huyện ML, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: M; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A đã chết và bà Mùa Thị P, sinh 1936; có vợ là Vàng Thị D, sinh năm 1995, có ba con, lớn nhất sinh năm 2014 nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không có án tích; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/01/2020; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Tòng Văn Minh – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh SL. Có mặt.

- Người bị hại:

Chị VAD, sinh 1982, địa chỉ: Bản NT, xã PT, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông QVL, sinh 1969, địa chỉ: Bản HM, xã MT, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.

Chị VTD, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản NT, xã PT, huyện ML, tỉnh SL. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo MAD bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 5 giờ ngày 4/12/2019 MAD, sinh ngày 19/3/1986, ở bản NT, xã PT, huyện ML, tỉnh SL đi bộ từ nhà đến bãi chăn thả gia súc của xã MT và xã PT quan sát thấy không người trông coi. MAD đến dắt một con bò cái lông vàng, trọng lượng khoảng 110 kg, đi cất dấu buộc một lán nương gần khu vực bản Tra cũ, sau đó về nhà lấy xe máy biển kiểm soát 98L4-3535 đi tìm nơi tiêu thụ. MAD đi đến khu vực lán nương của QVL, sinh 1969, địa chỉ: Bản Huổi Muôn, xã MT, huyện ML, hỏi QVL có mua bò không, hai người đi đến chỗ buộc bò, MAD nói là bò của bố mẹ muốn bán để lấy tiền đưa bạn đi cấp cứu, QVL nhất trí mua với giá 10.000.000, đồng và đã trả cho MAD đủ 10.000.000, đồng, số tiền này MAD đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 07/12/2019 VAD, sinh 1982, địa chỉ: Bản NT, xã PT, huyện ML, tỉnh SL đến bãi chăn thả gia súc gặp QVL cũng nhận bò mua của MAD, lúc này VAD mới biết bị mât trộm bò. Ngày 05/01/2020 hai người có đơn trình báo Công an.

Thu giữ vật chứng gồm:

01 con bò giống cái, lông màu vàng, nặng 110kg hơi;

01 xe mô tô nhãn hiệu HAMCO, biển kiểm soát 98L4-3535, số khung 011110, số máy 30011110, xe bị tháo bỏ phần nhựa, còn phần khung sắt, xe không có chìa khóa, xe cũ qua sử dụng.

Ngày 14/01/2020 Hội đồng định giá xác định:

01 con bò giống cái, lông màu vàng, nặng 110kg hơi, có giá trị 13.750.000, đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo MAD đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản cáo trạng số: 14/CT-VKSML ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh SL truy tố bị cáo: MAD về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo MAD phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo MAD từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại chị VAD 01 con bò giống cái, lông màu vàng, nặng 110kg hơi và chị VAD không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo MAD phải bồi thường trả cho ông QVL số tiền 10.000.000, đồng.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HAMCO, biển kiểm soát 98L4-3535 được xác định là tài sản chung của bị cáo MAD và vợ là VTD. Cần trả lại cho chị VTD để sử dụng.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án. Miễm án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho MAD do thuộc hộ nghèo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa đưa ra những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tố tụng: Người bị hại, người liên quan đều có đề nghị xử vắng mặt. Sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.

[3]. Tại phiên toà bị cáo MAD thừa nhận: Khoảng 5 giờ ngày 4/12/2019 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt con bò cái trọng lượng thịt 110 kg có giá trị 13.750.000, đồng của chị VAD.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn trình báo của người bị hại, lời khai của người làm chứng, lời khai của những người liên quan, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 13.750.000, đồng của bị cáo MAD đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội, do đó bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

[5]. Xét lời bào chữa đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo của người bào chữa, tuy nhiên bị cáo không được gia đình và chính quyền địa phương bảo lãnh để cải tạo tại địa phương, bị cáo chưa bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó chưa đủ căn cứ chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa.

[6]. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại chị VAD 01 con bò giống cái, lông màu vàng, nặng 110 kg hơi và chị VAD không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo MAD phải bồi thường trả cho ông QVL số tiền 10.000.000, đồng là số tiền ông QVL trả cho bị cáo khi mua con bò không biết do trộm cắp mà có.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HAMCO, biển kiểm soát 98L4-3535 được xác định là tài sản chung của bị cáo MAD và vợ là VTD. Cần trả lại cho chị VTD để sử dụng. Do bị cáo thuộc hộ nghèo miễm án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố bị cáo MAD phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo MAD 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù.

Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại chị VAD 01 con bò giống cái, lông màu vàng, nặng 110 kg hơi và chị VAD không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Buộc bị cáo MAD phải bồi thường trả cho ông QVL số tiền 10.000.000, đồng (mười triệu đồng).

Trả lại cho chị VTD 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HAMCO, biển kiểm soát 98L4-3535, số khung 011110, số máy 30011110, xe bị tháo bỏ phần nhựa, còn phần khung sắt, xe không có chìa khóa, xe cũ qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Miễm án phí hình sự, dân sự sơ thẩm cho MAD.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan VTD được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/5/2020. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2020/HS-ST ngày 25/05/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:18/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về