Bản án 18/2020/HNGĐ-ST ngày 05/05/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI - TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 18/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/05/2020 VỀ TRANH CHẤP YÊU CẦU LY HÔN

 Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 529/2019/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Huỳnh Tú Tr, sinh năm 1985 Địa chỉ: ấp 1, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

-Bị đơn: Anh Từ Minh D, sinh năm 1975 Địa chỉ: ấp 1, thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Huỳnh Cẩm Nh, sinh năm 1980 Địa chỉ: ấp LHT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

(Chị Tr và chị Nh có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2019, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Huỳnh Tú Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Từ Minh D đi đến hôn nhân do quen biết, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 04/01/2017 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo chị Tr xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên mâu thuẫn cải vã khiến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, gia đình có hòa giải cho vợ chồng nhưng vợ chồng xét thấy chung sống không hòa hợp nên không thể tiếp tục chung sống được với nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng tháng 6/2019 cho đến nay, anh D cũng có liên lạc nhưng vợ chồng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Từ Minh D.

Về con chung: chị Tr xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Từ Nhã Ph, sinh ngày 26/9/2016, hiện nay con đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con Về cấp dưỡng nuôi con: chị Tr xác định chị không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: chị Tr xác định chị không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: chị Huỳnh Tú Tr xác định vợ chồng có nợ chị Huỳnh Cẩm Nh số tiền 50.000.000 đồng, khi ly hôn chị và anh D thống nhất thỏa thuận vợ chồng cùng có trách nhiệm trả cho chị Nh số nợ này.

Bị đơn anh Từ Minh D trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/12/2019: về quan hệ hôn nhân thì giữa anh và chị Tr đi đến hôn nhân là do quen biết, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo anh D xác định: Trong thời gian chung sống vợ chồng cũng thường xuyên mâu thuẫn cải vã nhưng chỉ là chuyện nhỏ trong gia đình không đến mức phải ly hôn, khoảng tháng 6/2019 vợ chồng cải vã thì chị Tr bỏ đi về nhà cha mẹ ruột sống và vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Từ khi sống ly thân anh cũng có liên lạc và tìm biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nhưng chị Tr không đồng ý về tiếp tục chung sống. Nay anh xác định nguyên nhân chị Tr yêu cầu ly hôn là không phù hợp, anh vẫn còn tình cảm với vợ nên chị Tr yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn, anh yêu cầu được đoàn tụ Về con chung: Anh D xác định vợ chồng chung sống có 01 người con chung tên Từ Nhã Ph, sinh ngày 26/9/2016, hiện con đang sống với chị Tr, nếu Tòa án giải quyết cho chị Tr và anh ly hôn với nhau thì anh cũng đồng ý giao con cho chị Tr nuôi dưỡng và anh không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh D xác định anh không đặt ra yêu cầu xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về nợ chung: anh D xác định vợ chồng anh có nợ chị Huỳnh Cẩm Nh số tiền 50.000.000 đồng, ngoài ra vợ chồng không còn nợ ai khác, khi ly hôn anh yêu cầu vợ chồng cùng có nghĩa vụ trả cho chị Nh số tiền này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Cẩm Nh trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 08/01/2020: Vào đầu năm 2019 chị có cho vợ chồng chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D mượn số tiền 50.000.000 đồng để cất nhà, khi mượn thì không có làm giấy tờ gì, cũng không thỏa thuận thời hạn trả. Nay vợ chồng chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D ly hôn thì chị yêu cầu chị Tr và anh D cùng có trách nhiệm trả cho chị số tiền 50.000.000 đồng. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn anh Từ Minh D chưa chấp hành nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Giữa chị Tr và anh D kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được, nay chị Tr yêu cầu ly hôn, anh D không đồng ý ly hôn mà yêu cầu được đoàn tụ, tuy nhiên trong thời gian vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cho đến tại phiên tòa hôm nay anh D không tìm được biện pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr đối với anh D là có căn cứ.

Về nuôi con chung: đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của chị Tr và anh D, giao người con tên Từ Nhã Ph, sinh ngày 26/9/2016 cho chị Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Từ Minh D được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định anh chị không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này Về nợ chung: Buộc chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D cùng có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Thị Nh số tiền 50.000.000 đồng.

Về án phí thì chị Tr và anh D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Tr có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh D. Anh D có địa chỉ cư trú tại huyện Đông Hải. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.

Chị Tr và chị Nh có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Tr và chị Nh.

Anh Từ Minh D đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng anh D vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Từ Minh D.

[2] Về nội dung vụ án: chị Tr và anh D chung sống với nhau từ năm 2009, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong thời gian chung sống anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn GH, huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 04/01/2017 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp khi xảy ra tranh chấp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Tr đối với anh D thì Hội đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ. Nhưng thời gian chung sống chị Tr và anh D lại không làm được, mà còn phát sinh nhiều mẫu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện anh chị cũng đã sống ly thân với nhau, anh D có nguyện vọng được đoàn tụ, tuy nhiên từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân cho đến nay, anh D không có thiện chí hay tìm biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh D đến tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng anh D vẫn không đến, cho thấy anh D không có thiện chí muốn hòa giải, hàn gắn với chị Tr; Chị Tr vẫn giữ nguyên quan điểm kiên quyết xin ly hôn với anh D và xác định nếu Tòa án giải quyết không cho chị được ly hôn với anh D thì chị cũng không trở về chung sống với anh D, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Tr và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tr đối với anh D để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn là phù hợp.

Về nuôi con chung: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị Tr và anh D, giao người con tên Từ Nhã Ph, sinh ngày 26/9/2016 cho chị Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Từ Minh D được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định anh chị không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này Về nợ chung: chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định vợ chồng có nợ chị Huỳnh Cẩm Nh số tiền 50.000.000 đồng và thống nhất thỏa thuận khi ly hôn vợ chồng cùng có nghĩa vụ trả cho chị Nh số tiền này. Căn cứ khoản 1 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử công nhận đây là sự thật. Xét thấy số nợ trên được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Tr và anh D, chị Tr và anh D cũng thống nhất cùng trả số tiền này cho chị Nh. Do đó, buộc chị Tr và anh D có nghĩa vụ trả cho chị Nh là có căn cứ, cụ thể, buộc chị Tr có nghĩa vụ trả cho chị Nh số tiền 25.000.000 đồng, buộc anh D có nghĩa vụ trả cho chị Nh số tiền 25.000.000 đồng.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Tr phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Huỳnh Tú Tr phải nộp số tiền 1.250.000 đồng và anh Từ Minh D phải nộp là 1.250.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải (tương ứng với số tiền phải trả cho chị Nh).

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Căn cứ khoản 1 Điều 227; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51 và 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Tú Tr.

Xử cho chị Huỳnh Tú Tr được ly hôn với anh Từ Minh D.

2/.Về nuôi con chung: Giao người con tên Từ Nhã Ph, sinh ngày 26/9/2016 cho chị Huỳnh Tú Tr được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Từ Minh D được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định anh chị không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

3/.Về tài sản chung: Chị Huỳnh Tú Tr và anh Từ Minh D thống nhất xác định không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.

4/.Về nợ chung: buộc chị Huỳnh Tú Tr có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Cẩm Nh số tiền 25.000.000 đồng, buộc anh Từ Minh D có nghĩa vụ trả cho chị Huỳnh Cẩm Nh số tiền 25.000.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành án theo quy định tài khoản 2 Điều 468 bộ Luật dân sự.

5/. Về án phí: Chị Huỳnh Tú Tr phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004087 ngày 12 tháng 12 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc chị Huỳnh Tú Tr phải nộp số tiền 1.250.000 đồng và anh Từ Minh D phải nộp là 1.250.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Huỳnh Tú Tr, anh Từ Minh D và chị Huỳnh Cẩm Nh được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

212
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 18/2020/HNGĐ-ST ngày 05/05/2020 về tranh chấp yêu cầu ly hôn

Số hiệu:18/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Hải - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về