Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn giữa chị H và anh T

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 18/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ H VÀ ANH T

Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2019 về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1990; trú tại: Tổ A khu phố B, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1988; trú tại: Thôn H, xã M, huyện L, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa, chị H và anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị H và anh Đoàn Văn T kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 5 năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một năm thì phát sinh mâu nhiều thuẫn, vợ chồng đã không còn chung sống từ tháng 02 năm 2014. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có một con chung tên là Đoàn Trung K, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2013. Chị H đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đoàn Trung K. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung giữa chị H và anh T không có.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và đơn xin xét xử vắng mặt.

Đi với bị đơn anh Đoàn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, hai thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị H, không đến Tòa án tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về con chung, căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đề nghị của chị H, giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Đoàn Trung K; về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét yêu cầu ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn là chị H, chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Bị đơn là anh T không có yêu cầu phản tố, được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2] Về hôn nhân: Giữa chị H và anh T kết hôn với nhau tự nguyện, đã đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 5 năm 2013 tại Uỷ ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, đến nay vợ chồng đã không còn chung sống, không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét thấy, vợ chồng đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc giải quyết cho chị H ly hôn anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: Giữa chị H và anh T có một con chung tên là Đoàn Trung K, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2013, hiện tại cháu K đang được chị H nuôi dưỡng. Xét nguyện vọng của chị H muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với anh T không có ý kiến về yêu cầu này. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cháu K được giao cho chị H nuôi dưỡng. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Giữa chị H và anh T không có.

[5] Về án phí dân sự: Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị H có nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Chị H và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Cho chị Phạm Thị H ly hôn anh Đoàn Văn T.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là Đoàn Trung K, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2013, cho đến khi trưởng thành hoặc khi chị H và anh T có yêu cầu khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết.

Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Giữa chị H và anh T không có.

4. Về án phí dân sự: Chị Phạm Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn mà chị H đã nộp 300.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc, theo biên lai số AA/2016/0001034 ngày 03 tháng 9 năm 2019, chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị H và anh T có quyền kháng cáo đối với bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về ly hôn giữa chị H và anh T

Số hiệu:18/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Lộc - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về