Bản án 18/2018/HNGĐ-ST ngày 02/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 18/2018/HNGĐ-ST NGÀY 02/05/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON 

Ngày 02/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 40/2018/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 3 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét  xử 14/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/4/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Hồng C, sinh năm 1985. (Có mặt). Địa chỉ: Ấp x, xã L, huyện T, tỉnh L.

2. Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm 1977. (Có mặt). Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1/ Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại phiên tòa của nguyên đơn bà Lê Hồng C trình bày:

Do có quen biết và được sự đồng ý của gia đình hai bên nên năm 2015 bà và ông Trần Minh H có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số x/2016 ngày x/x/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh L. Vợ chồng sống chung một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau nên thường xuyên cải vả. Khoảng tháng 12/2017 vợ chồng ly thân cho đến nay.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay bà yêu cầu tòa án cho ly hôn với ông Trần Minh H.

Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phú T, sinh ngày 19/11/2016, hiện con chung đang sống bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nghĩa vụ trả nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2/ Tại biên bản hòa giải ngày 23/3/2018 cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Minh H trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà C về thời gian cưới, đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm vợ chồng sống ly thân cũng như nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn. Ông H thấy tình cảm vợ chồng không còn và khó đoàn tụ nên ông H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà C.

Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Phú T, sinh ngày 19/11/2016, hiện con chung đang sống bà C. Sau khi ly hôn ông H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu bà C cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nghĩa vụ trả nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Các đương sự trình bày đã cung cấp đủ các chứng cứ, không cung cấp chứng cứ gì thêm đồng thời vẫn giữ ý kiến và yêu cầu của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lê Hồng C có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Trụ chấp nhận cho đương sự được ly hôn với ông Trần Minh H. Đây là vụ án Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Trụ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bà C và ông H xác lập hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh L cấp Giấy chứng nhận kết hôn số xx/2016 ngày x/x/2016, đây là hôn nhân hợp pháp, sẽ được giải quyết theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn, vì nhận thấy rằng mâu thuẫn giữa bà và ông H không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2017 cho đến nay. Tại phiên tòa ông H xác định vợ chồng không còn tình cảm và không có khả năng đoàn tụ nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà C. Do bà C và ông H thuận tình ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về nuôi con chung: Vợ chồng có con chung tên Trần Phú T, sinh ngày 19/11/2016, hiện con chung đang sống bà C. Sau khi ly hôn bà C và ông H đều yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau thì con chung sống với bà C. Mặc khác, hiện con chung đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ và theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung Trần Phú T cho bà C được trực tiếp nuôi. Bà C không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Tài sản chung: Bà C và ông H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Nghĩa vụ trả nợ: Bà C và ông H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử xét không đề cập xem xét.

[7] Án phí: Bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; 39; 147; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Hồng C và ông Trần Minh H.

2.Về nuôi con chung: Giao con chung tên Trần Phú T, sinh ngày 19/11/2016 cho bà Lê Hồng C trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Minh H  không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Án phí: Bà Lê Hồng C phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000đ  (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006305 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ. Bà C đã nộp đủ án phí.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 18/2018/HNGĐ-ST ngày 02/05/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:18/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Trụ - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:02/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về