Bản án 173/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 173/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 384/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1979 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp NM A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Trần Văn V, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp NM A, xã TP, huyện Thới Bình,tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Trình bày của bà Huỳnh Thị L:

Hôn nhân: Bà L và ông V tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/8/2008. Vợ chồng chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông V.

Con chung: Bà L và ông V có 02 người con chung là Trần Mạnh Q, sinh ngày10/5/2002 và Trần Thảo N, sinh ngày 14/4/2006. Các con chung đang sống chung với vợ chồng. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Huỳnh Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn là ông Trần Văn V. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; ông V có nơi cư trú tại ấp NM A, xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình vắng mặt có lý do, ông Trần Văn V được Tòa án triệu tập xét xử lần thứ hai nhưng ông V vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 232, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Viện kiểm sát và ông V.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Bà L và ông V tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/8/2008. Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết vụ án bà L xác định bà và ông V chung sống với nhau không còn hạnh phúc, do bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, hôn nhân không thể kéo dài nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông V. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông V đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống, bà L xác định vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa bà L và ông V không đạt được. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để bà L và ông V có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông V vắng mặt không có lí do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia định chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông V là phù hợp.

[4].Về con chung: Bà L và ông V có 02 người con chung là Trần Mạnh Q, sinh ngày10/5/2002 và Trần Thảo N, sinh ngày 14/4/2006. Các con chung đang sống chung với vợ chồng. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, xét thấy các con chung đều đã trên 07 tuổi, quá trình giải quyết vụ án các cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ nên không chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà L, bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xet.

[5] Tài sản chung: Không có nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

[6] Về nợ chung: Bà L xác định vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại biên bản ghi lời khai của người làm chứng xác nhận bà L và ông V không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về nợ chung.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L về việc ly hôn với ông Trần Văn V.

2.1. Về hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L và ông Trần Văn V được ly hôn.

2.2. Về con chung: Giao cháu Trần Mạnh Q, sinh ngày 10/5/2002 (giới tính nam) và Trần Thảo N, sinh ngày 14/4/2006 (giới tính nữ) cho bà L tiếp tục nuôi dạy. Bà L không đặt ra yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 9 năm 2019 bà L có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010691tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định. 


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 173/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:173/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thới Bình - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về