Bản án 17/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ- TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 25/02/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Dương Văn T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn T, trị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh;giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1, sinh năm 1968 và bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/3/2017 Công an huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 28/12/2017 Công an huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nhân thân: Ngày 23/12/2016 Công an huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ngày 12/11/2017 Công an tỉnh Hà Nam (Phòng PC47 nay là PC 04) ra Quyết định xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cất giữ trái phép chất ma túy”.

Ngày 24/6/2017Công an tỉnh Hà Nam (Phòng PC47 nay là PC 04) ra Quyết định xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cất giữ trái phép chất ma túy”.

Ngày 19/9/2017Công an huyện Thanh Liêm, xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Ngày 06/02/2018 Công an tỉnh Hà Nam (Phòng PC04) ra quyết định xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cất giấu trái phép chất ma túy”.

Bị tạm giữ từ ngày 28/11/2018 đến ngày 04/12/2018 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1970; Trú tại: Thôn T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Hà Nam. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Xuân K, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ 3, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 28/11/2018 Dương Văn Tnhận được điện thoại của Đoàn Văn T4, sinh năm 1991 trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam rủT đi chơi, T đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka không biển kiểm soát đến đón T4, trên đường đi T4 bảoTđến nhà anh T3(còn gọi là T S) ở tổ 5, phường T, thành phố P.T đồng ý và điều khiển xe đến gần nhà T3 thì dừng xe, T4 đi bộ vào ngõ nhà T3 một lúc sau ra, T tiếp tục điều khiển chở T4 đến một hiệu thuốc Tây ở ven đường T4 vào mua xi lanh và nước cất sau đó T4 điều khiển xe chở T đến một ngôi chùa thuộc tổ 3, phường T, thành phố P, T4 lấy một ít ma túy vừa mua được bỏ vào xi lanh pha với nước cất rồi tiêm chích vào tĩnh mạch của mình, số ma túy còn lại T4 gói lại và đưa cho T sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố P, T4 bỏ chạy, T thả gói ma túy từ tay phải xuống đất thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ. Tại chỗ T khai đó là gói ma túy mục đích cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa T về trụ sở lập biên bản theo quy định của pháp luật. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia625H màu đen; 01 xe máy nhãn hiệu Lisohaka màu xanh không biển kiểm soát.

Thực hiện lệnh khám xét nơi ở đồ vật của bị cáo không thu giữ, tài liệu đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 191/PC09-MT ngày 03/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận:“Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,102g, loại heroine”.

- Bản cáo trạng số 28/CT-VKSPL ngày 31/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố Dương Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015(đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

-Tại phiên tòa,đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với bị cáo Dương Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm ckhoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 30 đến36 tháng tù và hướng xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật. Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích trục lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

- Bị cáo Dương Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố, không tranh luận và không có lời tự bào chữa chỉ xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bà Đoàn Thị T2 có quan điểm: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Lisohaka bà mua của một người trên địa bàn huyện T, tỉnh Hà Nam vào đầu năm 2018 với giá 3.000.000đ khi mua đôi bên không làm giấy tờ mua bán. Tại thời điểm mua xe có biển kiểm soát nhưng trong quá trình sử dụng đã bị mất biển kiểm soát chưa đi làm lại được. Ngày 28/11/2018 T mượn xe đi nhưng bà không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy. Nay bà có nguyện vọng xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt là đúng pháp luật.

[3] Đánh giá về tội danh: Đối chiếu lời khai thành khẩn nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra. Hội đồng xét xử thấy cơ bản phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, diễn biến vụ án, bản kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được cơ quan điều tra thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 20 phút ngày 28/11/2018 tại khu vực tổ 3, phường , thành phố P, tỉnh Hà Nam, Dương Văn T đang cất giấu trái phép 0,102gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T, thành phố P phát hiện bắt quả tang. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I số thứ tự 9 Nghị định số 73/NĐCP ngày 15/5/2018 của Chính Phủ. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. 

Quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu đã có hai tiền sự đều về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” từ năm 2016 đến năm 2018 đã năm lần bị xử phạt hành chính và cảnh cáo đều về hành vi tàng trữ và cất giấu ma túy.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo pháp luật.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung: Hành vi phạm tội của bị cáo là

nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm nguy hiểm khác.Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện để giáo dục, răn đe và nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét mục đích phạm tội của bị cáo không nhằm thu lời bất chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp luật.

[6] Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Bị cáo khai do Đoàn Văn T4, sinh năm 1991, trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam mua của người đàn ông tên T3(còn gọi là T S) ở phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam đưa cho T cất giữ để sử dụng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại xã T và phường T có người tên T4 và T3. Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhiều lần triệu tập đối với T4 và T3 đến làm việc nhưng cả hai đều không có mặt tại địa phương. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu nào khác chứng minh là T4 đi mua ma túy của T3 và T4 đưa ma túy cho T nên không có căn cứ xem xét trong vụ án.

[7] Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với toàn bộ số Heroine cùng bao gói hoàn trả sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Lisohaka không biển kểm soát, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản hợp pháp của bà Đoàn Thị T2. Bà T2 cho bị cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại chiếc xe trên chobà Đoàn Thị T2 là phù hợp pháp luật.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bị cáo sử liên lạc với Trung mua ma túy nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm ckhoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ các Điều 106, 136,331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Tuyên bố bị cáoDương Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Dương Văn T 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2018.

2/ Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì đã niêm phong số 191/PC09-MT mặt trước phong bì ghi mẫu vật hoàn trả QT01 tại mép dán nặt sau có hai chữ ký và hai dòng chữ ghi Nguyễn Thị Lan Hương, Lưu Thị Ngọc Anh một chữ ký đóng dấu chức danh trưởng phòng Trung tá Nguyễn Đại Hữu và ba dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 625H màn hình cảm ứng, vỏ màu đen (đã cũ).

- Trả lại bà Đoàn Thị T2 01xe máy nhãn hiệu Lisohaka màu sơn xanh, không đeo biển kiểm soát (đã cũ), có số máy: VLKZS1P50FMH* 00033771*, số khung: VLKPCH022LK*033771*.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam với Chi cục thi hành án dân sự, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ngày31/01/2019.

3/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


51
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về