Bản án 17/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 17/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 395/2018/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13 /2019/HSST-QĐ ngày 04/01/2019 đối với bị cáo:

Vương Đồng D, sinh năm 1989 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm 3 xã S, huyện S, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm thuê (thợ sơn nước); trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Vương Đồng P, sinh năm 1943 và con bà Lê Thị S, sinh năm 1952; có vợ tên Trần Thị O, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2017; tiền sự: Không có Tiền án:

+ Ngày 17/8/2007 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên (nay là thị xã Tân Uyên), tỉnh Bình Dương xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 64, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2007.

+ Ngày 24/4/2008 Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 207, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/02/2009.

+ Ngày 10/11/2010 Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo bản án số 250, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2016. Bị bắt giam ngày 20/9/2018, có mặt.

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; thường trú: Xóm 11 xã S, huyện S, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Khu phố L2, phường A, thị xã K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người chứng kiến:

1. Anh Trương Văn V, sinh năm 1993; tạm trú: 36 khu phố Đ1, phường A, thị xã K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

2. Chị Hồ Thị M, sinh năm 1975; tạm trú: 39 đường 15, khu phố Đ2, phường A,thị xã K, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 20/9/2018, bị cáo Vương Đồng D được người tên Hiếu (không rõ nhân thân) sử dụng xe mô tô (không rõ biển số) chở D về phòng ở trọ của D. Khi cả hai lưu thông đến trước số nhà 39 đường 15 khu phố Đ2, phường A, thị xã K, tỉnh Bình Dương gặp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 của anh Nguyễn Văn T dựng bên đường, trên xe vẫn cắm chìa khóa điện. D nói Hiếu “dừng xe để hỏi đường”, D đi bộ xuống khi cách xe khoảng 5 m, anh T và anh Trương Văn V người đi cùng anh T đang trú mưa ở gốc cây và đứng cách xe 7 m đang quay mặt vào phía trong, D tiếp cận xe, dùng tay mở chìa khóa dắt xe đề nổ máy, khi dắt được khoảng 10 m anh T, anh V chạy ra truy hô  đuổi theo, D ngồi lên xe tăng ga chạy thì anh T nắm phía đuôi xe kéo lại làm D và xe ngã xuống đường. Anh T, V cùng người dân đi đường khống chế bắt giữ D, người tên Hiếu tẩu thoát Công an phường Dĩ An đến làm việc lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang đối với D.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 màu vàng đen, có số khung C6K0EY157305, số máy 5C6K157305.

Kết luận định giá tài sản số 277/BB.ĐG ngày 27/09/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 màu vàng đen, có số khung C6K0EY157305, số máy 5C6K157305 trị giá 14.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T đã nhận được tài sản là xe mô tô Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 và không yêu cầu bồi thường.

Cáo trạng số 388/CT-VKS ngày 11/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Vương Đồng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm 6 tháng tù.

Trước khi hội đồng xét xử nghị án, bị cáo D nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Vương Đồng D khai nhận vào khoảng 16 giờ ngày 20/9/2018, bị cáo D đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 trị giá 14.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T thì bị phát hiện bắt giữ, bị cáo D đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.

Điều 73 Tội trộm cắp tài sản, Bộ luật Hình sự quy định:

Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 ồng hoặc dưới 2.000.000 ồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức b)…

g) Tái phạm ngu hiểm.

Như vậy hành vi trên của bị cáo D đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 388/QĐ – VKS ngày 11/12/2018 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm do bị cáo D thực hiện là nghiêm trọng, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của anh Nguyễn Văn T được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo D mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ tội phạm bị cáo thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây ra thiệt hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân rất xấu thể hiện việc không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo nhiều lần phạm tội thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Văn T đã nhận tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 37M1-121.59 và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xét.

[5] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo D cũng như việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[6] Án phí sơ thẩm: Bị cáo D phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các ẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vương Đồng D phạm tội Trộm cắp tài sản. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Vương Đồng D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2018

2. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Vương Đồng D phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:17/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về