Bản án 17/2019/HS-ST ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 11/07/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 6năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 26/2019/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Bị cáo: Lê Đức T sinh ngày 26 tháng 02 năm 1992. Nơi cư trú:Thôn Cầu T, xã Cầu L, huyện Hậu LA, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; con ông Lê Duy TH, sinh năm 1964 và bà Đỗ Thị Tha, sinh năm: 1964; Vợ, con: chưa có; Chị, em ruột có 03 người, kể cả bị cáo, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị Công an thị xã Duyên Hải tạm giữ từ ngày 27/3/2019 đến ngày 04/4/2019 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Duyên Hải cho đến nay; Nhân thân bị cáo Lê Đức T ngày 27-3-2015 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản” với hình phạt 01 năm tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách 02 năm, bị cáo đã được xóa án tích.

- Bị hại: Tổng công ty A.

Địa chỉ: số 11phố Cửa B, phường Trúc BB, quận BĐ, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật có ông Nguyễn Hữu TB, chức vụ Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: có ông Nguyễn Văn L, chức vụ Phó Giám đốc Công ty Nhiệt điện DH. có đơn xin xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 26/3/2019, Lê Đức T, sinh ngày 26/02/1992, thường trú Thôn Cầu T, xã Cầu L, huyện Hậu LA, tỉnh Thanh Hóa, từ nhà trọ Ngọc Trâm Anh thuộc ấp Giồng Giếng, xã Dân Thành điều khiển xe mô tô biển số 84H1-9007 chạy vào cổng số 1 (C1), Nhà máy Nhiệt điện DH 1 thuộc ấp Mù U, xã DT, thị xã DH cắt trộm dây đồng bán lấy tiền tiêu xài. Vào bên trong Nhà máy, T điều khiển xe đến đậu tại khu vực để xe của công nhân cạnh khu vực lò hơi 1, tổ máy số 1 (S1), Nhà máy Nhiệt điện DH 1. T cầm cái áo thun màu xanh dương có cây kềm cắt cáp bên trong đi cầu thang bộ lên tầng 6 tổ máy S1, nhìn xung quanh không có ai nên T trèo lên máng chứa dây điện bên trong, bên ngoài máng có lắp đường dây đồng trần xoắn tiếp địa lo ại C150mm2 được bắt dính vào máng bằng đai ốc. Đầu tiên, T dùng 2 tay cầm cây kềm bắt đầu cắt dây đồng từ góc nhà tầng 6 về hướng cầu thang bộ một đoạn dài 32,3 mét, thì nghỉ cắt. Tiếp đến, T cắt ngắn các đoạn dây đồng vác xuống mặt đất đặt dưới chân c ầu thang rồi đi tìm đồ đựng các đoạn dây đồng trên. T tìm xung quanh thì nhìn thấy 01 cái ba lô màu nâu hiệu Tuli có 8 ngăn ở tầng trệt khu vực lò hơi 2 nên lấy để cây kềm cùng số dây đồng đã cắt trộm vào nhưng không hết. T tiếp tục để số dây đồng còn lại vào bên trong cái áo thun tay ngắn, màu xanh dương. Cuối cùng, T để cái áo bên trong có dây đồng lên ba ga trước của xe, để ba lô màu nâu lên trên cái áo rồi điều khiển xe mô tô biển số 84H1-9007 chạy ra cổng C1. Lúc ra đến cổng C1 là khoảng 02 giờ 17 phút ngày 27/3/2019, các bảo vệ trực cổng thấy T có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe lại kiểm tra và phát hiện T đang chở toàn bộ tang vật nêu trên nên điện thoại trình báo công an.

Quá trình điều tra, Lê Đức T còn khai nhận: vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23/3/2019, T từ nhà trọ Ngọc Trâm Anh điều khiển xe mô tô biển số 84H1-9007 chạy vào cổng C1 nhà máy Nhiệt điện DH 1 rồi chạy qua nhà máy Nhiệt điện DH 3 đậu xe gần khu vực xử lý nước hỗn hợp. T mang theo ba lô, túi xách và kềm đã chuẩn bị sẵn đi vào khu vực xử lý nước, nhìn xung quanh không có ai nên T trèo lên máng cáp điện cách mặt đất 4,5 mét, bên ngoài máng có lắp đường dây cáp đồng tiếp địa loại THIPHA CABLE 2017-Cu/PVC 185mm2-06/1kV-ICE 60502-1# được bắt dính vào máng bằng đai ốc. Đầu tiền, T ngồi trên máng cáp, dùng hai tay cầm kềm bắt đầu cắt từ hướng Nhà điều khiển nhiên liệu về hướng Nhà ép bùn.

Khi T cắt được 06 đoạn dài 59,7 mét, thì nghỉ cắt. Tiếp đến, T đi xuống thấy trong số 06 đoạn dây vừa cắt có 01 đoạn dài nên cắt ra làm hai đoạn khác nhau. T kéo các đoạn dây cáp vừa cắt xong lại gần Nhà ép bùn định cắt ra thành những đoạn nhỏ để vào ba lô, thì bị Võ Bá TM, sinh năm 1983, thường trú ấp 2, xã Thuận Đ, huyện GT tỉnh Bến Tre tuần tra phát hiện nên T bỏ toàn bộ tang vật tại hiện trường rồi điều khiển xe 84H1-9007 chạy ra Cổng C1 nhà máy Nhiệt điện DH 1. Sau đó, ông Thiện báo bảo vệ nhà máy trình báo Công an.

Tại kết luận định giá số 07, ngày 02-4-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã DH kết luận: 32,3 mét dây đồng trần xoắn(tiếp địa), C 150 mm2 đã được cắt nhỏ thành 64 đoạn, đoạn dài nhất là 71cm, đoạn ngắn nhất là 26cm trong đó có 04 đoạn đã bị tháo rời, tổng khối lượng là 43,5kg có giá trị: 7.586.400 đồng; Tại kết luận định giá số 11, ngày 21-5-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duyên Hải kết luận: 59,7 mét dây cáp điện THIPHA CABLE 2017- Cu/PVC 185mm2-06/1kV-ICE 60502-1# đã được cắt thành 07 đoạn, đoạn dài nhất 13,2 mét, đoạn ngắn nhất 01 mét có giá trị 14.751.870 đồng. Tổng cộng 22.338.270 đồng.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-HS ngày 11-6-2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Lê Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đức T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r,s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; về trách nhiệm dân sự bị hại và bị cáo đã thỏa thuận xong đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này, đối phần vật chứng chiếc xe mô tô là phương tiện phạm tội đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước. Đối 02 cây kiềm, 02 cái balô, 01 cái áo thun, 01 túi xách tịch thu hủy bỏ. Ngoài ra vị kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Đức T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Duyên Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Kết quả thẩm vấn, tranh luận công khai tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 26-3-2019, Lê Đức T điều khiển xe mô tô chạy vào cổng số 1 Nhà máy Nhiệt điện DH 1 thuộc ấp Mù U, xã DT, thị xã DH đến khu vực lò hơi, tổ máy số 1 để xe ở đó và đi bộ lên tầng 6 tổ máy số 1 và leo lên máng chứa dây điện bên trong dùng kềm cắt 32,3 mét dây đồng trần xoắn(tiếp địa), C 150 mm2, sau đó T cắt ngắn các đoạn dây đồng này rồi vác xuống mặt đất bỏ vào túi balô, số dây đồng còn lại T bỏ vào bên trong cái áo thun rồi để balô và áo lên baga trước của xe mô tô chạy ra cổng thì bị lực lượng bảo vệ bắt quả tang và báo cho cơ quan công an theo kết luận định giá số 07, ngày 02-01-2019 của Hội đồng định giá tài sản của thị xã Duyên Hải thì số dây đồng này có giá 7.586.400 đồng. Qua quá trình điều tra T còn khai vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23-3-2019, T cũng điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 84H1- 9007 chạy vào cổng C1 nhà máy Nhiệt điện DH 1 sau đó chạy qua nhà máy nhiện điện Duyên Hải 3 đậu xe gần khu vực xử lý nước hỗn hợp treo lên máng cáp điện cách mặt đất 4-5 mét bên ngoài máng có lắp đường dây cáp đồng tiếp địa loại THIPHA CABLE 2017- Cu/PVC 185mm2-06/1kV-ICE 60502- 1#, T dùng kềm cắt được 06 đoạn dài tổng cộng 59,7 mét. T kéo các đoạn dây đồng này đi về nhà máy ép bùn để cắt nhỏ các đoạn này ra nhỏ để bỏ vào túi balô thì bị bảo vệ nhà máy phát hiện nên T bỏ chạy và bỏ toàn bộ số dây điện tại hiện trường. Theo kết luận định giá số 11, ngày 21-5-2019 của Hội đồng định giá tài sản của thị xã Duyên Hải thì số dây đồng này có giá 14.751.870 đồng Như vậy đã có đầy đủ cơ sở quy kết bị cáo Lê Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, bị cáo Lê Đức T có đầy đủ khả năng nhận thức, bị cáo từng thực hiện hành vi trộm cắp và bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản” với hình phạt 01 năm tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách 02 năm, bị cáo đã được xóa án tích. Lẽ ra bị cáo phải giác ngộ cái tốt cái xấu để tích cực lao động tạo thu nhập nuôi sống bản thân trở thành người có ích cho xã hội, đằng này với bản chất chay lười lao động thích hưởng thụ, bị cáo sau khi xóa án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp. Bị cáo đã 02 lần vào Trung tâm Nhiệt điện DH cụ thể Nhà máy Nhiệt điện DH 1, Nhà mày Nhiệt điện DH 3 cắt trộm dây đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của tổ chức được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Xét thấy cần phải lên cho bị cáo một mức án để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo đã tự thú hành vi phạm tội đây là các tình tiết được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự theo sự đề nghị của vị Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin xử vắng mặt về phần hình phạt yêu cầu Tòa xử bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đối số dây đồng mà bị cáo đã cắt đây là các khoản chi phí để khắc phục cũng như mua mới đối phần dây đồng không thể khắc phục. Bị cáo T thống nhất theo yêu cầu của bị hại. Hội đồng xét xử thấy việc bị hại và bị cáo đã thỏa thuận về việc bồi thường về phần trách nhiệm dân sự, sự thỏa thuận này là không trái pháp luật cũng như không trái đạo đức xã hội nên công nhận sự thỏa thuận này và buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Tổng công ty A số tiền 15.000.000 đồng.

[6] Về vật chứng: 02 cái kềm, 02 balô, 01 cái túi xách, 01 cái áo thun là công cụ phạm tội đã hư hỏng không còn giá trị sử dụng, do đó tuyên tịch thu để tiêu hủy. Đối với xe môtô mang biển số 84H1- 9007 là phương tiện phạm tội thuộc quyền sở hữu của bị cáo nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước [7] Xét bản cáo trạng của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt tù là có căn cứ, phù hợp pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận [8] Về án phí: Bị cáo Lê Đức T phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 27-3-2019.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại với bị cáo Lê Đức T. Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Tổng công ty A số tiền 15.000.000 đồng.

Kể từ ngày có bản sơ thẩm này cho đến khi thi hành xong khoản nợ này hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

 - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe môtô hiệu Honda Wave alpha màu xanh, biển số 84H1-9007, xe không có số khung, số máy, không có kính chiếu hậu, dàn áo xe bằng nhựa đã hư hỏng.

- Tịch thu để tiêu hủy các vật chứng sau:

+ 01 cây kềm cắt cáp hiệu Asaki dài 34,5cm bằng kim loại, có lưỡi màu bạc và cán màu cam.

+ 01 cây kềm cắt cáp hiệu Asaki dài 34,5cm bằng kim loại, có lưỡi màu bạc và cán màu cam, một bên cán có phần tay cầm bằng nhựa màu đen, ở phần cán kềm có gắn 02 ống tiếp bằng kim loại màu bạc, một ống có đường kính 32mm, dài 54cm, một ống có đường kính 25mm dài 54cm.

+ 01 áo thun tay ngắn có bâu, màu xanh dương, size M hiệu Truerelegion.

+ 01 balô màu nâu, hiệu Tuli có 08 ngăn gồm: 01 ngăn có kích thước 32x18x 45cm, 02 ngăn mỗi ngăn có kích thước 32x02x45cm, 03 ngăn mỗi ngăn có kích thước 30 x 02x 20cm, 02 ngăn mỗi ngăn có kích thước 20x02x15cm trên balô có ghi chữ “ CAN XUAN” bằng mực viết xóa màu trắng.

+ 01cái ba lô màu đen có 05 ngăn gồm: 01 ngăn có kích thước 59x18x34cm, 02 ngăn mỗi ngăn có kích thước 23x 16x 01, 01 ngăn có kích thước 27 x 27 x02cm, 01 ngăn có kích thước 22x 21 x 03cm trên balô có ghi chữ “ THE NORTH FACE”.

+ 01 túi xách tay bằng vải màu đen có 03 ngăn gồ m: 01 ngăn có kích thước 58x24x20cm, 01 ngăn có kích thước 24x17x 01cm, 01 ngăn có kích thước 24x17x01cm, 01 ngăn có kích thước 15 x 13 x 01cm trên túi có ghi chữ “ MACAT Sport”.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Đức T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 11/07/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Duyên Hải - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về