Bản án 17/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 10/07/2019 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI

Ngày 10 tháng 7 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/TLST-HS, ngày 07 tháng 6 năm 2019; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST- HS, ngày 17 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Châu Thanh N, sinh ngày: 28/8/2000, tại: Thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Số nhà 322/2, ấp T P, xã Phong Hòa, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Châu Văn T và bà Đỗ Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Từ ngày 22/4/2019 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

Lê Huyền Ngọc H - sinh năm: 2005. (có mặt)

Trú tại: Số nhà 0207, Tổ 1, ấp T L, xã T T, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Huyền Ngọc H:

Lê Văn H - sinh năm: 1963. (cha ruột) (có mặt) Nguyễn Thị M - sinh năm: 1968. (mẹ ruột) (có mặt)

Cùng trú tại: Số nhà 0207, T 1, ấp T L, xã T T, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Lê Huyền Ngọc H: Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Quốc T - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đồng Tháp, Chi nhánh số 1. (có mặt)

Địa chỉ: Số nhà 466 đường N S S, K 5, P 1, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Đỗ Thị H - sinh năm: 1978. (có mặt)

2. Châu Văn T - sinh năm: 1976. (có mặt)

Cùng trú tại: Số nhà 322/2, ấp T P, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3. Nguyễn Thị Kiều Nga - sinh năm: 1981. (chủ nhà trọ Quang Vinh) (vắng mặt).

Trú tại: ấp T P, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Nguyễn Thị Nương - sinh năm: 1970. (vắng mặt)

Trú tại: ấp T P, xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong tháng 01 năm 2019, Châu Thanh N và Lê Huyền Ngọc H quen nhau thông qua mạng xã hội Zalo. Vào lúc 18 giờ ngày 07/02/2019, N điện thoại rủ H đến nhà N chơi thì H đồng ý. N chạy xe đến rước H về nhà N thì bà Đỗ Thị H (mẹ N) thấy H còn nhỏ nên bà H la rầy và kêu N chở H về nhà của H.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N không chở H về nhà mà chở H đến nhà trọ Q V thuộc xã P H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp để ngủ qua đêm. Khi đến nhà trọ, N đăng ký thuê phòng số 03, sau đó N với H vào phòng trọ, cả hai nằm trên giường lấy điện thoại chơi game khoảng 30 phút, N quay sang ôm H, dùng tay cởi hết quần áo trên người của H ra, N tự cởi đồ của mình ra rồi thực hiện hành vi giao cấu với H khoảng 20 phút thì N xuất tinh. Sau khi giao cấu xong, N với H ôm nhau nằm nghỉ khoảng 60 phút, N tiếp tục thực hiện hành vi giao cấu với H khoảng 15 phút thì xuất tinh (cả 02 lần giao cấu với H nêu trên N đều sử dụng bao cao su). Sau đó, N với H mặc đồ vào ôm nhau ngủ.

Đến khoảng 08 giờ sáng ngày 08/02/2019, Châu Thanh N với Lê Huyền Ngọc H thức dậy, sau đó N dùng tay cởi hết quần áo trên người của H ra, N tự cởi đồ của mình ra rồi thực hiện hành vi giao cấu với H khoảng 15 phút thì H nói đau âm hộ nên N không giao cấu với H nữa, lần này không có xuất tinh. Sau đó, N và H mặc đồ vào rồi đi ra trả phòng, N đưa H đi về nhà. Khi H về nhà thì ông Lê Minh Hoàng (cha H) hỏi thì H nói đã giao cấu với N nên ông Hoàng đã đến Cơ quan Công an tố giác hành vi của N. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lai Vung, Châu Thanh N thừa nhận đã thực hiện hành vi giao cấu với em Lê Huyền Ngọc H 03 lần.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 10/TD-TTPY ngày 09/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp đối với Lê Huyền Ngọc H, kết luận: Âm hộ không tổn thương; Màng trinh dãn rộng, không vết rách.

Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS, ngày 04/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Châu Thanh N ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Châu Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

- Bị hại Lê Huyền Ngọc H trình bày có quen với N qua mạng xã hội Zalo, khoảng 18 giờ ngày 07/02/2019, N điện thoại rủ H đến nhà N chơi thì H đồng ý và sau đó N chở H đến nhà trọ Q V ngủ qua đêm và N đã giao cấu với H 03 lần. H yêu cầu N bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của H bị xâm phạm là 30.000.000 đồng và không yêu gì thêm.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Huyền Ngọc H là ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị Mcùng trình bày ngày khoảng 18 giờ ngày 07/02/2019 H đi chơi với N gia đình không hay. Ngày 08/02/2019 khi H về nhà gia đình hỏi thì H nói N đã giao cấu với H 03 lần; ông Lê Văn H, bà Nguyễn Thị M yêu cầu bị cáo N bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của H bị xâm phạm là 30.000.000 đồng.

- Người làm chứng Đỗ Thị H, Châu Văn T trình bày: Khi gặp N chở H về nhà, thấy H còn nhỏ nên kêu N chở H về nhà của H nhưng sau đó N đi đâu và làm gì thì không biết.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: khẳng định việc truy tố đúng như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Châu Thanh N đã có hành vi 03 lần giao cấu với Lê Huyền Ngọc H, khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đại diện bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt Châu Thanh N từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 592 Bộ luật dân sự 2015 công nhận sự thỏa thuận của bị can Châu Thanh N và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của em Lê Huyền Ngọc H là 30.000.000đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 , 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi tay dài màu đen, trên áo có nhiều hoa văn màu trắng; 01 cái quần jean dài màu xanh; cái quần lót màu xanh-đen, trên quần có chữ Calvin Klein màu trắng-cam; 01 cái áo dây bằng thun màu đen; 01 quần vải dài màu đen; 01 quần lót màu hồng vì không còn giá trị sử dụng.

- Hoàn trả cho bị cáo Châu Thanh N: 01 diện thoại di động hiệu VIVO màu trắng, loại cảm ứng, trên điện thoại có chữ VIVO. Nhưng giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý) Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Quốc T phát biểu quan điểm: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bồi thường dân sự và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Châu Thanh N thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về việc thay đổi người tiến hành tố tụng đối với Hội thẩm nhân dân.

[2] Về hành vi của bị cáo: Bị cáo Châu Thanh N đã có hành vi giao cấu với Lê Huyền Ngọc H 03 lần. Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật đồng thời biết rõ bị hại Lê Huyền Ngọc H chưa đủ 16 tuổi nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi giao cấu với bị hại H, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, cho nên hành vi của bị cáo Châu Thanh N có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” phạm vào điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại điểm a khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;….”

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi của bị cáo Châu Thanh N là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến danh dự và nH phẩm của trẻ em, làm tổn hại đến sự phát triển về tinh thần và thể chất của Lê Huyền Ngọc H, vi phạm nếp sống lành mạnh, văn minh của xã hội, vì muốn thỏa mãn dục vọng và lợi dụng sự nhẹ dạ của Lê Huyền Ngọc H, bị cáo N bất chấp dư luận, cố ý thực hiện hành vi giao cấu với trẻ em, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, đồng thời nhằm mục đích giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội, cũng qua phiên toà này cũng cần nghiêm khắc phê phán những bậc làm cha mẹ thiếu sự quan tâm chăm sóc đối với con cái, nhất là các cháu gái, đó là điều kiện dẫn đến sự đáng tiếc như vụ án này. Xét tính chất, mức độ, ý thức và hậu quả phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa chung cho những ai có tư tưởng như bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo Châu Thanh N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. [5] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi tay dài màu đen, trên áo có nhiều hoa văn màu trắng; 01 cái quần jean dài màu xanh; cái quần lót màu xanh-đen, trên quần có chữ Calvin Klein màu trắng-cam; 01 cái áo dây bằng thun màu đen; 01 quần vải dài màu đen; 01 quần lót màu hồng vì không còn giá trị sử dụng.

- Hoàn trả cho bị can Châu Thanh N: 01 diện thoại di động hiệu VIVO màu trắng, loại cảm ứng, trên điện thoại có chữ VIVO, không kiểm tra chất lượng bên trong điện thoại, điện thoại đã niêm phong. Nhưng giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý)

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H - người đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Văn Hg, bà Nguyễn Thị M và bị cáo thỏa thuận mức bồi thường tiền tổn thất tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín của bị hại Lê Huyền Ngọc H bị xâm phạm là 30.000.000 đồng, nên công nhận sự thỏa thuận trên là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Châu Thanh N phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt bị cáo Châu Thanh N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015 tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cái áo sơ mi tay dài màu đen, trên áo có nhiều hoa văn màu trắng; 01 cái quần jean dài màu xanh; cái quần lót màu xanh-đen, trên quần có chữ Calvin Klein màu trắng-cam; 01 cái áo dây bằng thun màu đen; 01 quần vải dài màu đen; 01 quần lót màu hồng vì không còn giá trị sử dụng.

- Hoàn trả cho bị can Châu Thanh N: 01 diện thoại di động hiệu VIVO màu trắng, loại cảm ứng, trên điện thoại có chữ VIVO, không kiểm tra chất lượng bên trong điện thoại, điện thoại đã niêm phong. Nhưng giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

(Hiện vật chứng và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung đang quản lý) 3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 592 Bộ luật dân sự 2015: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Châu Thanh N và bị hại H, người đại diện hợp pháp của bị hại ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M. Bị cáo N bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của Lê Huyền Ngọc H số tiền 30.000.000đồng (ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Lê Huyền Ngọc H- người đại diện hợp pháp là ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M làm đơn yêu cầu thi hành án mà Châu Thanh N chưa thi hành xong các khoản tiền phải trả cho Lê Huyền Ngọc H- người đại diện hợp pháp là ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M thì hàng tháng Châu Thanh N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Châu Thanh N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 10/7/2019.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 10/07/2019 về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lai Vung - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về