Bản án 17/2019/HS-ST ngày 07/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

BẢN ÁN 17/2019/HS-ST NGÀY 07/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Sa Pa đối với bị cáo:

Châu A T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993, tại huyện S, L; Nơi cư trú: thôn V, xã S, huyện S, tỉnh L. Nghề nghiệp: tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Châu A T (đã chết); Con bà: Sùng Thị s (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, chưa có con. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án: không; Tiền sự: Không.

Nhân thân của bị cáo: Bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, lần thứ nhất từ ngày 08/10/2013 đến ngày 08/10/2014, lần thứ hai từ ngày 10/9/2016 đến ngày 06/9/2017.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Sa Pa từ ngày 01/8/2018. (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Diễm Hằng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (Có mặt tại phiên tòa). Bị hại: Công ty TNHH MTV Thủy điện Sa Pa – Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện S, tỉnh L. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Nguyễn Tuấn A – Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện S, tỉnh L. (Vắng mặt tại phiên tòa).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Văn M – Địa chỉ: Thôn Hoàng Liên, xã B, huyện S, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Châu A T là đối tượng nghiện chất ma túy, do không có tiền để mua ma túy sử dụng, ngày 31/07/2019 Tính đã nảy sinh ý định thực hiện hành vi trộm cắp dây cáp ngầm của thủy điện Nậm Toóng tại xã B, huyện S để bán lấy tiền mua ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 31/7/2019 Tính mượn xe mô tô BKS 24Y1-3456 của anh Lưu Văn M, nói là mượn xe để đi về nhà tại thôn Vạn Dền Sử, xã Sử Pán nên ông Minh đã đồng ý cho mượn. Tính điều khiển xe về nhà và mang theo công cụ gồm: 01 con dao phay có một lưỡi sắc đầu bằng dài 40cm, 01 chiếc xà cầy bằng thép xoắn dài 88cm lên thủy điện Nậm Toóng để cắt trộm dây điện. Đến nơi, Tính dựng xe ở lề đường phía ta luy âm, rồi dùng xà cầy đào 01 hố gần cột cao áp số 15 trạm biến áp Bản Hồ 2 đến khi lộ ống gen màu cam bên trong có chứa dây cáp điện ngầm, Tính dùng dao chặt đứt ống gen và dây cáp. Sau đó Tính đi xuống vị trí gần cột cao áp số 14 trạm biến áp Bản Hồ 2 đào một hố tương tự, khi lộ ra ống gen có chứa dây cáp điện, Tính dùng dao mang theo chặt đứt phần ống gen và dây điện bên trong, rồi kéo phần dây cáp ra khỏi ống gen cuộn lại kéo về phía lề đường bên ta luy âm. Tính định chằng buộc toàn bộ số dây cáp lên xe, nhưng do số dây cáp quá nặng không nâng lên được, Tính đã chặt một đoạn dài 5,1m đặt lên xe để chở về trước, số dây cáp còn lại sẽ quay lại lấy sau. Sau đó, Tính quay lại dùng đất đá lấp vào các hố đã đào, khi lấp hố gần chân cột cao áp số 14 trạm biến áp Bản Hồ 2, Tính thấy 01 đoạn dây cáp đồng trần bị kéo ra khỏi ống gen nên dùng dao chặt đứt một đoạn 05m với mục đích đem đi bán, thì bị anh Nguyễn Anh Tuấn là quản lý nhà máy thủy điện phát hiện. Tính đã bỏ lại xà cầy, dao, và điện thoại di động tại hiện trường rồi điều khiển xe máy chở theo 5,1 mét dây cáp điện bỏ chạy. Anh Tuấn đã trình báo công an đồn Bản Hồ và truy đuổi theo Tính. Khi tổ công tác công an đồn Bản Hồ truy đuổi Tính đến khu vực thôn La Ve, xã Bản Hồ thì bắt được Tính và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đen, BKS 24Y1-3456; 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề mặt có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong mỗi ống nhựa có 07 sợi kim loại màu vàng đồng dài 5,1m.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề mặt có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong mỗi ống nhựa có 07 sợi kim loại màu vàng đồng, được cuộn thành nhiều vòng dài 34,8m; 01 đoạn dây kim loại gồm 07 sợi màu vàng đồng dài 5m; 01 xà cầy bằng thép xoắn, kích thước 88cm x ®2cm một đầu đập dẹt, đầu còn lại được uốn cong, đập dẹt, xẻ chếch hình chữ V; 01 con dao loại dao thái có một lưỡi sắc, đầu bằng, chuôi bằng gỗ, chiều dài 40cm, chỗ rộng nhất là 7cm, chỗ hẹp nhất 4cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar Masstel màu đen đã qua sử dụng.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Sa Pa đã tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 39.9m dây cáp ngầm và 05m dây cáp đồng trần M10 do bị cáo trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 15 ngày 05/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sa Pa kết luận: Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 11.890.447 đồng.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS-SP ngày 29/8/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa truy tố bị cáo Châu A T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Châu A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Châu A T từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu đề nghị gì đối với bị cáo về trách nhiệm dân sự, nên không xem xét.

Xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Châu A T: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s, khoản 1 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Châu A T 04 (Bốn) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo Châu A T đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa đã truy tố đối với bị cáo, bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Châu A T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác như: Đơn trình báo của người đại diện theo ủy quyền của bị hại; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản xét nghiệm ma túy; Biên bản xác minh đối với bị cáo Châu A T; Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường. Kết luận định giá tài sản số 15 ngày 05/8/2019; Biên bản ghi lời khai của bị cáo; Bản kết luận điều tra số 22 ngày 26/8/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Bản cáo trạng số 22/CT-VKS- SP ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Sáng ngày 31/7/2019, Bị cáo Châu A T đã có hành vi trộm cắp dây cáp điện của Công ty TNHH MTV thủy điện Sa Pa. Theo bản Kết luận định giá tài sản, giá trị tài sản bị cáo trộm cắp còn lại là 11.890.447 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sự hiểu biết về xã hội cũng như pháp luật của nhà nước. Bị cáo nhận thức được hành vi "Trộm cắp tài sản" của người khác là vi phạm pháp luật, song chỉ vì động cơ vụ lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu sài cho bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc trước pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Bị cáo bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, lần thứ nhất từ ngày 08/10/2013 đến ngày 08/10/2014, lần thứ hai từ ngày 10/9/2016 đến ngày 06/9/2017.

Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo Châu A T được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy đối với bị cáo cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn để trừng trị, đồng thời tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Song xét thấy điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng gì, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH MTV thủy điện Sa Pa có yêu cầu xin lại toàn bộ vật chứng bị cáo đã trộm cắp của công ty, ngoài ra không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

- Đối với 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đen, BKS 24Y1-3456, đây là tài sản của anh Lưu Văn M, bị cáo Tính mượn xe của anh Minh sử dụng vào việc phạm tội anh Minh không biết nên cần trả lại chiếc xe này cho anh Minh.

- Đối với 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong mỗi ống nhựa có 07 sợi kim loại màu vàng đồng dài 5,1 mét; 01 đoạn dây kim loại gồm 07 sợi màu vàng đồng dài 5 mét; 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong có 07 sợi kim loại màu vàng đồng hai đầu có vết cắt sắc gọn, được cuộn thành nhiều vòng dài 34,8 mét; Đây là tài sản bị cáo đã trộm cắp của Công ty TNHH MTV thủy điện Sa Pa, nên cần trả lại cho Công ty. - Đối với 01 xà cầy bằng thép xoắn, kích thước 88cm x ®2cm một đầu đập dẹt, đầu còn lại được uốn cong, đập dẹt, xẻ chếch hình chữ V; 01 con dao, loại dao thái một lưỡi sắc, đầu bằng, chiều dài 40cm, chỗ rộng nhất là 07cm, chỗ hẹp nhất 04cm; Đây là những công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar Masstel màu đen. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo Châu A T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Châu A T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Về hình phạt: Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Châu A T 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ bị cáo 01/8/2019.

[3] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c Khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho anh Lưu Văn M 01 chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA màu đen, BKS 24Y1-3456.

- Trả lại cho Công ty TNHH MTV Thủy điện Sa Pa: 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong mỗi ống nhựa có 07 sợi kim loại màu vàng đồng dài 5,1 mét; 01 đoạn dây kim loại gồm 07 sợi màu vàng đồng dài 5 mét; 01 đoạn dây cáp điện có phần vỏ nhựa màu đen, trên bề có ghi dòng chữ Phú Thắng ELEXTRIC, bên trong có phần lớp cách điện bằng nhựa trắng và 04 ống nhựa trắng bên trong có 07 sợi kim loại màu vàng đồng hai đầu có vết cắt sắc gọn, được cuộn thành nhiều vòng dài 34,8 mét.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 xà cầy bằng thép xoắn, kích thước 88cm x ®2cm một đầu đập dẹt, đầu còn lại được uốn cong, đập dẹt, xẻ chếch hình chữ V; 01 con dao, loại dao thái một lưỡi sắc, đầu bằng, chiều dài 40cm, chỗ rộng nhất là 07cm, chỗ hẹp nhất 04cm.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar Masstel màu đen.

[4] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 nghị quyết 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Châu A T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Châu A T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HS-ST ngày 07/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:17/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sa Pa - Lào Cai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về