Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 29/01/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 280/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hồng L; nơi cư trú: Australia; tạm trú: Số nhà 360, đường Lý Thường K, phường Phạm Hồng Th, quận HB, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T; Australia, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Bùi Thị Hồng L trình bày: Chị và anh Nguyễn Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 9 năm 2011. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc . Đến đầu năm 2018, chị và anh Nguyên Quang T sang Australia để sinh sống. Trong quá trình chung sống tại nước ngoài, cuộc sống khó khăn hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn , giữa chị và anh Nguyên Quang T thường xuyên xẩy ra cãi vã, bất đồng trong quan điểm sống. Đến giữa năm 2018, chị và anh T đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Giữa chị L và anh T cũng đã cố gắng khắc phục tình trạng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng nhưng không có kết quả . Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn , khả năng đoàn tụ là không thể nên chị

Bùi Thị Hồng L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.

Về nuôi con: Trong quá trình chung sống giữa chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T có hai con chung là cháu Nguyễn Quang Việt A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2011 và cháu Nguyễn Quang Đại Ph sinh ngày 16 tháng 8 năm 2014. Khi ly hôn chị Bui Thi Hông L và anh Nguyên Quang T thống nhất giao hai con cho chị Bùi Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị và anh Nguyễn Quang T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T tự thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn gửi về Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, bị đơn là anh Nguyễn Quang T trình bày: Anh thống nhất với chị Bui Thi Hông L về quá trình kết hôn, về con chung, về tài sản chung cũng như nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng ly hôn. Nay anh Nguyễn Quang T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng L.

Do anh Nguyễn Quang T đang ở nước ngoài và không yêu cầu hòa giải nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa: Cả chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T đều có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét thấy:

 [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hồ Nam, quận Lê Chân thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 9 năm 2011, theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đây là hôn nhân hợp pháp. Vụ án có đương sự hiện đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

 [2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Nguyễn Quang T vắng mặt tại phiên tòa, anh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Bùi Thị Hồng L nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho anh, tài liệu của anh đã được Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại SYDNEY - AUSTRALIA chưng nhân . Chị Bùi Thị Hồng L đã được nhận tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt do chị có công việc đột xuất. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T.

 [3] Về hôn nhân: Lời khai của chị Bùi Thị Hồng L thống nhất với lời khai của anh Nguyễn Quang T về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời lời khai của anh chị cũng phù hợp với ý kiến của đại diện gia đình. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T thường xuyên xẩy ra cãi vã , do co bất đồng trong cuộc sống , vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bản thân cả anh chị cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Như vây, mâu thuẫn vợ chồng giưa chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay cả hai cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, việc chị Bùi Thị Hồng L xin ly hôn là hoàn toàn chính đáng, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình châp nhân đê nghi xin ly hôn của chị Bùi Thị Hồng L.

 [4] Về nuôi con: Giữa chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T có hai con chung, khi ly hôn anh chi thống nhất giao ca hai con cho chị Bùi Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét, việc thỏa thuận của chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T là tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật va phu hơp vơi nguyên vong cua con . Do vậy áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận thỏa thuận về nuôi con của chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T. Về cấp dưỡng nuôi con chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T thỏa thuận tư giao nhân không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [6] Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng L là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

 [7] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Hồng L được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.

2. Về nuôi con: Giao cháu Nguyễn Quang Việt A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2011 và cháu Nguyễn Quang Đại Ph sinh ngày 16 tháng 8 năm 2014 cho chị Bùi Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyên Quang T tự giao nhân không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hồng L và anh Nguyễn Quang T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Chị Bùi Thị Hồng L phải chịu 300.000 đông (ba trăm nghin đông ) án phí ly hôn sơ thâm. Nhưng đươc trư vao sô tiên tam ưng an phi dân sư sơ thâm đ ã nộp là 300.000 đông theo B iên lai sô 0001619 ngày 09 tháng 01 năm 2019 tại Cuc Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị Hồng L đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Bùi Thị Hồng L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Anh Nguyễn Quang T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


119
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 29/01/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về