Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/06/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 14/6/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 357/2018/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2018 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXXST- HNGD ngày 22/4/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Như H - sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Đinh Thành C - sinh năm: 1983, địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Như H trình bày:

- Về yêu cầu ly hôn: Bà H và ông Đinh Thành C tự nguyện kết hôn năm 2007 tại UBND xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01 ngày 09/7/2007. Trong quá trình chung sống đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên kình cãi do ông C không tin tưởng, nghi ngờ bà H có quan hệ tình cảm với người khác, nhiều lần xúc phạm, gây áp lực cho bà H và đập phá đồ đạc trong nhà. Bà H nhiều lần nói chuyện với ông C nhưng không giải quyết được. Bà H và ông C sống chung nhà nhưng sinh hoạt riêng từ tháng 9/2018, không còn quan tâm đến nhau. Nay bà H không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông C có 01 con chung là Đinh Phan Quỳnh N sinh ngày 11/12/2007. Hiện cháu N đang sống với bà H, không có nhược điểm về thể chất và tinh thần. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Đinh Thành C không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt theo giấy triệu tập làm việc,Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Theo biên bản xác minh ngày 20/02/2019 tại Công an xã C, ông C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã C, huyện C. Hiện nay ông C có mặt tại địa phương.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C phát biểu ý kiến:

Về tuân theo pháp luật tố tụng: quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Phan Thị Như H và ông Đinh Thành C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên tòa ngày 09/5/2019, ngày 27/5/2019 và ngày 14/6/2019; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C.

[2] Về yêu cầu ly hôn: bà H và ông C tự nguyện kết hôn với nhau năm 2007 được Uỷ ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 68, quyển số 01 ngày 09/7/2007; đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa bà H và ông C phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không tin tưởng và tôn trọng nhau. Bà H và ông C tuy sống chung nhưng sinh hoạt riêng, không còn quan tâm đến nhau từ tháng 9/2018 đến nay. Bà H xác định không còn tình cảm đối với ông C. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà H được ly hôn với ông C.

[3] Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà H và ông C có 01 con chung là Đinh Phan Quỳnh N sinh ngày 11/12/2007. Cháu N đang sống với bà H và có nguyện vọng được ở với bà H. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, ông C vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, sau này nếu có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

[5] Về án phí: bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Phan Thị Như H được ly hôn với ông Đinh Thành C.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

- Giao cháu Đinh Phan Quỳnh N sinh ngày 11/12/2007 cho bà Phan Thị Như H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Phan Thị Như H không yêu cầu ông Đinh Thành C cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: bà Phan Thị Như H và ông Đinh Thành C được quyền khởi kiện vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: bà Phan Thị Như H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0004559 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, bà H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


39
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 14/06/2019 về ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về