Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 13/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 13/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 13 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXX-ST ngày 22 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thúy H, sinh năm 1982.

HKTT: Thôn Đ, xã Th, huyện Th, tỉnh B.

Chỗ ở hiện nay: Tiểu khu 2, xã Ch, thành phố S, tỉnh S.

Bị đơn: Anh Nguyên Ngọc N, sinh năm 1983.

HKTT: Thôn Đ, xã Th, huyện Th, tỉnh B. (Có mặt)

Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Ngọc Lý - C10 - Bộ Công an. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của các đương sự tại Toà án thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Phạm Thị Thúy H và anh Nguyễn Ngọc N kết hôn ngày 26/11/2006, trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu và đăng ký tại UBND xã Th, huyện Th, tỉnh B. Sau khi kết hôn chị H về chung sống cùng anh N và gia đình anh N ngay.

Chị H trình bày: Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh N mải mê chơi bời, không chịu làm ăn, không quan tâm gì đến vợ con vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Do không thể chịu đựng được nên từ năm 2013 chị đã mang con về nhà bố mẹ đẻ ở S sinh sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm giữa chị và anh N không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau đươc nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh N có hai con chung là Nguyễn Sơn Tr, sinh ngày 11/11/2007 và Nguyễn Sơn T, sinh ngày 18/10/2012, hiện nay cả hai con đang ở cùng chị. Nếu vợ chồng ly hôn chị đề nghị Toà án giao cho chị chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ: Chị xác nhận giữa chị và anh N không có nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Phía bị đơn là anh Nguyễn Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại bản tự khai anh trình bày: Anh xác nhận một phần lời khai của chị H về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn và về con chung. Anh xác nhận trong quá trình chung sống giữa anh và chị H có xảy ra mâu thuẫn, chị H đã mang con về nhà bố mẹ đẻ chị H ở S sống và vợ chồng sống ly thân từ năm 2013 cho đên nay. Từ khi chị H về nhà bố mẹ đẻ thì vợ chồng cũng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau nữa, chỉ thỉnh thoảng anh có đến thăm con. Nay chị H xin ly hôn anh, anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị H.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh và Chị H có hai con chung như Chị H trình bày là đúng, hiện nay cả hai con đang ở cùng Chị H. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Sơn T, tuy nhiên do hiện nay anh đang phải chấp hành án tại trại giam nên anh đồng ý để Chị H chăm sóc và nuôi dưỡng cả hai con.

Về tài sản chung, công nợ: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án do anh N đang phải chấp hành hình phạt tù nên có đơn xin giải quyết vắng mặt. Chị H có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và đề nghị không tiến hành hòa giải do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh N và đề nghị Toà án giao cả hai con chung cho chị được nuôi dưỡng và chăm sóc, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên toà hôm nay Kiểm sát viên phát biểu và kết luận về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, nguyên đơn, bị đơn là đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Xử Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy H đươc ly hôn anh Nguyễn Ngọc N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Sơn Tr, sinh ngày 11/11/2007 và Nguyễn Sơn T, sinh ngày 18/10/2012 cho chị Phạm Thị Thúy H chăm sóc và nuôi dưỡng.

Việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Phạm Thị Thúy H và anh Nguyễn Ngọc N kết hôn ngày 26/11/2006, có được tự do tìm hiểu và đăng ký tại UBND xã Th, huyện Th, tỉnh B, xét thấy đây là hôn nhân hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Thúy H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị H và anh N là có thật và nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ năm 2013 chị H đã mang con về nhà bố mẹ đẻ ở S sinh sống và vợ chồng cũng sống ly thân từ đó. Nay chị H xin ly hôn anh N, phía anh N cũng xác đình tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau đươc nữa nên anh N cũng đồng ý. Hội đồng xét xử nhân thây mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị H và anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho Chị H đươc ly hôn với anh N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống Chị H, anh N có hai con chung là Nguyễn Sơn Tr, sinh ngày 11/11/2007 và Nguyễn Sơn T, sinh ngày 18/10/2012, hiện nay cả hai cháu đang ở cùng Chị H. Khi ly hôn chị H đề nghị được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung, phía anh N cũng nhất trí nên cần chấp nhận và giao cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Do Chị H không yêu câu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Các bên đương sự đều xác nhận không có.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thúy H đươc ly hôn anh Nguyễn Ngọc N.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Sơn Tr, sinh ngày 11/11/2007 và Nguyễn Sơn T, sinh ngày 18/10/2012 cho chị Phạm Thị Thúy H chăm sóc và nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết.

Sau ly hôn các đương sự có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Phạm Thị Thúy H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. (Xác nhận Chị H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2017/3158 ngày 13/6/2018 của chị cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành).

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân đươc tống đạt bản án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 13/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Thành - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về