Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 17/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 260/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2019, giữa:

-Nguyên đơn: Bà Phan Thị Trúc G, sinh năm: 1989.

Cư trú tại: ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

-Bị đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm: 1986.

Cư trú tại: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 11 năm 2018 và trong quá trình xét xử, bà Phan Thị Trúc G là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Trần Văn D tổ chức lễ cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/10/2012, tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do cách sống của hai bên không phù hợp, cuộc sống hôn nhân thường xuyên mâu thuẫn, không thể hàn gắn được. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Trần Văn D.

Về con chung: Bà và ông D có với nhau một người con chung tên Trần Phan Khánh B, sinh ngày 18/11/2013, từ trước đến nay bà trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi con chung, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ông Trần Văn D là bị đơn theo xác nhận của Công an xã Thuận Mỹ ngày 19/11/2018, ông D hiện đang có mặt tại địa phương, Tòa án nhiều lần tống đạt trực tiếp các thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho cha mẹ của ông D, cam kết về giao lại cho ông D nhưng ông D vắng mặt không lý do, do đó cần áp dụng các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Trần Văn D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bà Phan Thị Trúc G xin ly hôn với ông Trần Văn D, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết.

[2] Bà Phan Thị Trúc G và ông Trần Văn D tổ chức lễ cưới vào năm 2012, có đăng ký kết hôn vào ngày 25/10/2012, tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

[3] Theo bà Phan Thị Trúc G sau ngày cưới vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc được bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên cải vã nhau. Hai người không còn chung sống với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trúc G xin ly hôn với ông D. Đối với ông Trần Văn D hiện đang có mặt tại địa phương, Tòa án đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho cha mẹ ông D, cam kết về giao lại cho ông D, nhưng ông D vẫn vắng mặt không lý do, đã thể hiện ý thức không hợp tác của ông D. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Phan Thị Trúc G được ly hôn với ông Trần Văn D, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Nguyên đơn khai trình hai đương sự có với nhau một người con chung tên Trần Phan Khánh B, sinh ngày 18/11/2013, từ trước đến nay bà Trúc G trực tiếp nuôi con. Khi ly hôn bà Trúc G yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi con chung, không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy để ổn định cuộc sống của con chung của hai đương sự cần giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay. Bà Trúc G không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra. Ông D có quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Phan Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Phan Thị Trúc G được ly hôn với ông Trần Văn D.

2. Về con chung: Khi ly hôn bà Phan Thị Trúc G được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Trần Phan Khánh B, sinh ngày 18/11/2013, đến tuổi trưởng thành. Ông Trần Văn D không phải cấp dưỡng nuôi con; được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Phan Thị Trúc G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Cho chuyển số tiền tạm ứng án phí bà Phan Thị Trúc G đã nộp là 300.000 đồng sang khoản án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0001017 ngày 04 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:17/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 04/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về