Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 04/10/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 17/2018/HNGĐ-ST NGÀY 04/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 04 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2018/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp: Hôn nhân gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2018/QĐST- HNGĐ ngày 19/9/2018 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1991

HKTT: Số nhà 03, ngõ 12, đường L, phường V, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Hiện trú tại nhà ông Nguyễn Văn V1 (bố đẻ) tại xóm 13, thôn A, xã G, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

-Bị đơn: Anh Phạm Đức M, sinh năm 1987.

Trú tại: Số nhà 03, ngõ 12, đường L, phường V, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Tại phiên tòa: Có mặt chị V, vắng mặt anh M mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị V trình bày:

Chị và anh Phạm Đức M kết hôn được tự do tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V ngày 07/7/2014. Quá trình chung sống, thời gian đầu hạnh phúc, từ năm 2016 đến nay vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn do anh M thường xuyên uống rượu, sau đó chửi bới đánh đập chị. Chị đã khuyên bảo anh nhiều lần nhưng anh vẫn không từ bỏ. Có lần anh đánh, chị đã phải nhờ Chính quyền địa phương đến can thiệp, chị phải sang hàng xóm để trú nhờ. Ngày 16/5/2018 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng với anh M được nữa, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Phạm Đức M.

Về con chung: Chị và anh M có một con chung là cháu Phạm Đức M1 sinh ngày 18/8/2015. Khi ly hôn chị xin trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con vì hiện tại anh M không có công ăn việc làm ổn định.

Về tài sản chung và công nợ: Chị và anh M không có tài sản chung, không vay nợ ai nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

*Anh Phạm Đức M không có lời khai và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì mặc dù Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác hợp lệ.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Nguyên đơn là chị V nghiêm chỉnh chấp hành còn anh M không chấp hành. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V, xử cho chị V được ly hôn anh Phạm Đức M. Về con chung: Giao cho chị V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Đức M1 đến khi trưởng thành, chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung. Chị V phải nộp án phí dân sự về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V và anh Phạm Đức M kết hôn được tự do tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Ninh Bình ngày 07/7/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2016 chị V và anh M thường xuyên sảy ra mâu thuẫn đánh nhau, Chính quyền địa phương đã nhiều lần phải can thiệp. Đến tháng 5 năm 2018 chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, từ đó đến nay chị V và anh M sống ly thân, không ai còn quan tâm đến nhau. Nay chị V kiên quyết xin ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh M trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị V được ly hôn anh M là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]Về con chung: Chị V và anh M có một con chung là cháu Phạm Đức M1 sinh ngày 18/8/2015. Chị V xin trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục cháu, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu M1 còn nhỏ, yêu cầu được nuôi con của chị V là phù hợp và đúng pháp luật nên cần chấp nhận giao cho chị V được trực tiếp nuôi con và ghi nhận sự tự nguyện của chị V về việc không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Anh M được quyền thăm nom chăm sóc con chung.

[3]Về tài sản chung và công nợ chung: Chị V không yêu cầu giải quyết do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị V. Xử cho chị Nguyễn Thị V được ly hôn anh Phạm Đức M. Quan hệ hôn nhân giữa chị V, anh M chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Đức M1 sinh ngày 18/8/2015 đến khi cháu M1 trưởng thành.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị V về việc không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Anh M được quyền thăm nom chăm sóc con chung.

3.Về án phí dân sự sơ thẩm:Chị Nguyễn Thị V phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0000754 ngày 29/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

Án xử công khai sơ thẩm, chị V có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh M vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


62
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 17/2018/HNGĐ-ST ngày 04/10/2018 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:17/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/10/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về