Bản án 170/2021/HS-ST ngày 03/06/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 170/2021/HS-ST NGÀY 03/06/2021 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 03 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H;

Sinh ngày 21 tháng 3 năm 1993; Tại: Q; Nơi cư trú: Buôn K, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn H và con bà Châu Thị L. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị M và có 02 con, con lớn sinh năm 2015 và con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2021 đến ngày 29/01/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy, loại Methamphetamine từ năm 2020. Vào khoảng 15 giờ ngày 20/01/2021, H gọi điện thoại cho một người tên Cu Vũ nhà ở đường hẻm 3/9 đường Y, phường T, thành phố B (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy với mục đích sử dụng thì Cu Vũ đồng ý bán, rồi hẹn H đi đến địa chỉ trên để lấy ma túy. Tại đây, Cu Vũ bán 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng cho H, sau khi mua được ma túy H cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc để tìm nơi sử dụng. Khi H đang đi bộ đến hẻm số 16 đường N, phường T, thì bị Công an phường T tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc 01 gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và được niêm phong theo quy định.

Tại kết luận giám định số 140/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: chất tinh thể màu trắng đựng trong 1 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1783 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 162/CT-VKS ngày 07/5/2021 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 0,1407 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám dịnh được niêm phong trong gói số 140/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2021 là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, có gắn sim số 0985.020.101 của bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước .

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo: vào khoảng 15 giờ ngày 20/01/2021 tại hẻm 16 đường N, bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ 0,1783 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.

Tại các biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận mục đích mua ma túy về để sử dụng cho việc nghiện hút của bản thân.

Do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

….

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Chất ma túy là chất kích thích gây nghiện, hành vi tự ý tàng trữ chất ma túy đã xâm phạm đến việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Song do bị cáo là người nghiện ma túy và để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Văn H theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ nghiêm mới đủ cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong xã hội.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa bị cáo cung cấp gia đình có ông Châu B và bà Võ Thị Th là ông bà ngoại của bị cáo được tặng giấy khen và huân chương kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nên cần xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của nhà nước ta.

[2.3] Đối với nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai nhận mua của người tên Cu Vũ (chưa rõ nhân thân lai lịch) ở địa chỉ 3/9 đường Y, phường T, thành phố B. Quá trình điều tra xác định tại địa chỉ trên có đối tượng tên Trần Y Anh V (tên gọi khác là Cu Vũ). Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra và tiến hành đối chất với bị cáo, Cu Vũ không thừa nhận hành vi bán ma túy cho bị cáo, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột chưa đủ căn cứ chứng minh Trần Y Anh V có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột tách hành vi của Trần Y Anh V ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[2.4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,1407 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám dịnh được niêm phong trong gói số 140/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2021 là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, có gắn sim số 0985.020.101 của bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước .

[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Khấu trừ thời gian bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2021 đến ngày 29/01/2021.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy đối với 0,1407 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám dịnh được niêm phong trong gói số 140/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2021 là tang vật của vụ án.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, có gắn sim số 0985.020.101 của bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2021 giữa Công an thành phố Buôn Ma Thuột và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột)

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 170/2021/HS-ST ngày 03/06/2021 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:170/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:03/06/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về