Bản án 166/2018/HNGĐ-ST ngày 19/07/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 166/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 19 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lai Tuyết L, sinh năm 1984 (có mặt)

Cư trú tại: Khóm 5, thị trấn T, huyện T, tỉnh C.

- Bị đơn: Anh Dương Bé B, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cư trú tại: Ấp Tân Hùng, xã N, huyện Đ, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/5/2018 và trong qúa trình xét xử nguyên đơn chị Lai Tuyết L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Dương Bé B tổ chức đám cưới vào năm 2005, không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã được gia đình hai bên nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, do vợ chồng bất đồng quan điểm. Từ mâu thuẫn trên nên vợ chồng không còn gắn bó thương yêu nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai có trách nhiệm với ai. Hiện nay vợ chồng ly thân gần 02 năm.

Nay chị thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chi yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Bé B.

Về nuôi con chung: Có 02 người con tên Dương Tuấn A, sinh ngày 21/10/2006 và Dương Thị Mỹ D, sinh ngày 04/8/2012. Hiện các con đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi các con và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu A và D tròn 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng hàng quý.

Về chia tài sản và nợ: Chị L xác định không có.

Đối với bị đơn anh Dương Bé B: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh B theo quy định pháp luật nhưng anh Bự không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Anh Dương Bé B là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng nhưng anh B vắng mặt không có lý do, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B .

[2] Về hôn nhân: Chị Lại Tuyết L và anh Dương Bé B tổ chức đám cưới vào năm 2005, không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên quan hệ hôn nhân của anh chị không được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã ly thân gần 02 năm. Tại phiên tòa chị L yêu cầu được ly hôn với anh B. Do anh chị không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử không công nhận chị L và anh B là vợ chồng.

[2] Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Dương Tuấn A , sinh ngày 21/10/2006 và Dương Thị Mỹ D , sinh ngày 04/8/2012. Hiện các con đang sống với chị, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi các con. Căn cứ văn bản ghi ý kiến của cháu Dương Tuấn A ngày 08 tháng 4 năm 2018 thể hiện cháu có nguyện vọng ở với chị L. Ngoài ra, từ khi anh chị ly thân đến nay, cháu A và cháu D do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng ổn định, hơn nữa cháu D là con gái chưa tròn 06 tuổi, cần phải có sự nuôi dưỡng, giáo dục, đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần của cháu. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các cháu, theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần giao các cháu A và D cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Dương Bé B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con theo qui định pháp luật. Xét thấy, theo quy định tại khỏa 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tại phiên tòa chị L xác định công việc hiện nay của anh B là thợ hồ và thợ sơn. Anh B không có ý kiến gì và vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào mức thu nhập trung bình tại đia phương buộc anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 700.000 đồng/người/tháng X 02 người = 1.400.000 đồng . Phương thức cấp dưỡng hàng quý.

Thời gian cấp dưỡng: Tại phiên tòa chi L yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu D và A tròn 18 tuổi. Xét thấy, yêu cầu của chị Lệ là phù hợp, nên Hội đồng xét xử buộc anh Bự cấp dưỡng cho các cháu D và A kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu D và A tròn 18 tuổi.

[4] Về chia tài sản và nợ: Chị L xác định không có.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, điểm a khỏn 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

[6] Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Dưỡng Bé B phải chịu 300.000 đồng Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 81; khoản 2 Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; khoản 1 Điều 116; Điều 117; khoản 1 Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lại Tuyết L với anh Dương Bé B .

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Dương Tuấn A , sinh ngày 21/10/2006 và Dương Thị Mỹ D , sinh ngày 04/8/2012 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Dương Bé B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

2.2. Anh Dương Bé B phải cấp dưỡng nuôi con với chị L số tiền là 1.400.000đ/tháng (một triệu bốn trăm ngàn đồng một tháng). Thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các cháu A và cháu D thành niên (đủ 18 tuổi). Phương thức cấp dưỡng hàng quý.

Kể từ ngày chị Lai Tuyết L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Dương Bé B chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, thì hàng tháng anh B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0009853 ngày 02/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Án phí cấp dưỡng cho con anh Dương Bé B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) chưa nộp.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 166/2018/HNGĐ-ST ngày 19/07/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:166/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 19/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về