Bản án 165/2021/HNGĐ-ST ngày 12/05/2021 về ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 165/2021/HNGĐ-ST NGÀY 12/05/2021 VỀ LY HÔN, NUÔI CON CHUNG 

Ngày 12 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 134/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 về việc tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2021/QĐ-ST ngày 09 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/QĐ-TA ngày 28 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ D, sinh năm 1983; địa chỉ: số 63, ấp B.T, xã B. P.X, huyện C.M, tỉnh An Giang. Chổ ở: ấp B.P, xã B.P.X, huyện C.M, tỉnh An Giang, (Có mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Bích T, sinh năm 1981; địa chỉ: số 63, ấp B.T, xã B.P.X, huyện C.M, tỉnh An Giang, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện đề ngày 24/02/2021, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thị Mỹ D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Bích T quen biết, cả hai cùng tìm hiểu, tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã B.P.X, huyện C.M vào ngày 19/7/2010, cả hai sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẩn do không tôn trọng nhau, mâu thuẩn xảy ra bắt nguồn từ nguyên nhân anh T ham chơi cờ bạc, không chí thú làm ăn, khi xảy ra cự cãi anh thường xuyên đánh đập chị; mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, từ thời điểm đó cho đến nay vợ chồng sống ly thân, chị D về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Nay thấy tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên chị D xin ly hôn với anh Phạm Bích T.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019. Các con chung đang sống cùng với chị D, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp:

+ Bản sao Giấy khai sinh của Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019; Bản sao CNĐKKH;

+ Văn bản trình bày ý kiến của Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011.

Sau khi thụ lý vụ án, nhằm tạo điều kiện, mục đích vận động các bên hàn gắn những mâu thuẩn, những bất đồng đã xảy ra Tòa án đã mở phiên họp hòa giải để động viên các bên hàn gắn, đoàn tụ nhưng phía bị đơn không có mặt, do đó không thể tiến hành hòa giải được, anh Thảo không phản hồi, không thể hiện ý kiến gì về việc nuôi con và cấp dưỡng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Thảo và yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung; anh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Các bên không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn Phạm Bích T tuy được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ D và anh Phạm Bích T quen biết, cả hai cùng tìm hiểu, tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ba nhân dân xã B.P.X vào năm 2010 theo quy định pháp luật, cả hai sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh bất đồng do không tôn trọng nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẩn nguyên nhân từ việc anh T chơi cờ bạc, nợ nần, về nhà gây sự, cự cãi đánh đập chị D; mâu thuẩn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn, chị D về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ thời điểm đó cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị D xin ly hôn với anh Phạm Bích T là có căn cứ.

Từ khi chị D gửi đơn khởi kiện, anh T không có ý kiến phản hồi và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, chị D xác định không còn tình cảm với anh T, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nếu tiếp tục sống chung sẽ không hạnh phúc, nên chị D yêu cầu ly hôn với anh T là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Có 03 con chung Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019. Hiện đang sống cùng với chị D, sau khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; Ý kiến các cháu đều có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn được sống cùng với mẹ.

Việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng nuôi cần xem xét đến điều kiện phát triển của con chưa thành niên và nguyện vọng của cháu theo quy định của pháp luật. Các cháu Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019 đang sống chung với chị D, vẫn phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nguyện vọng của các cháu sau khi cha mẹ ly hôn sống cùng với chị D, nên cần ổn định cuộc sống của các cháu, tiếp tục giao các cháu cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập giải quyết.

- Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Mỹ D đối với anh Phạm Bích T.

Giao chị Lê Thị Mỹ D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019 đến tuổi trưởng thành. Anh Phạm Bích T không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn được xác định là tranh chấp về“Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn Phạm Bích T, sinh năm 1981, nơi cư trú tại xã B.P.X, huyện C.M, tỉnh An Giang. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện C.M, tỉnh An Giang là đúng quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật cho các bên đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất được mở vào ngày 28/4/2021, bị đơn vắng mặt không rõ lý do thuộc trường hợp hoãn phiên tòa.

Phiên tòa được mở lại lần thứ hai ngày 12/5/2021, Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn tiếp tục vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

[2.1] Về tính hợp pháp, chị Lê Thị Mỹ D và anh Phạm Bích T tiến đến hôn nhân trên cơ sở tình yêu tự nguyện, tìm hiểu, không có sự lừa dối hay ép buộc; có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Ủy ban nhân dân tại Ủy ban nhân dân xã B.P.X vào năm 2010, phù hợp với trích lục Giấy chứng nhận kết hôn đã chị D cung cấp có trong hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị D, anh T là hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

[2.2] Về tình trạng hôn nhân, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng giữa chị Dung, anh Thảo hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, mối quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, không còn sống chung từ đó đến nay, chị D về nhà cha mẹ ruột sinh sống, kể từ thời điểm ly thân, vợ chồng ít liên lạc qua lại, không còn quan tâm, chia sẽ, yêu thương lẫn nhau mà thay vào đó là dùng những lời lẽ lớn tiếng, xúc phạm, anh T dùng vũ lực đánh đập chị D, thể hiện mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, không còn sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương lẫn nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập đến các phiên hòa giải để động viên các bên hàn gắn tình cảm, xóa bỏ những mâu thuẩn để cùng chung sống với nhau nhưng anh T đều vắng mặt. Tuy nhiên, căn cứ vào lời trình bày của chị D thể hiện mâu thuẩn vợ chồng trầm trọng, khó có thể hàn gắn những bất đồng và anh T không đưa ra căn cứ, giải pháp, không có ý kiến phản hồi nào nhằm cải thiện mâu thuẩn vợ chồng, hiện nay vợ chồng tiếp tục tình trạng sống ly thân, không quan tâm đến nhau, mỗi người sống cuộc sống riêng lẻ, không còn mục tiêu để xây dựng một gia đình; có căn cứ vợ chồng chung sống với nhau không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Dó đó cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận khởi kiện cho chị Lê Thị Mỹ D được ly hôn anh Phạm Bích Thảo là phù hợp.

[3] Về con chung: Có 03 con chung Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019. Hiện nay, các con chung sống cùng với chị D, sau khi ly hôn chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc 03 con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh Thảo phải cấp dưỡng nuôi con;

Ý kiến các cháu đều có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn được sống cùng với mẹ. Với những điều kiện nêu trên, việc giao con chưa thành niên cho vợ hay chồng nuôi dưỡng cần xem xét yếu tố khách quan, tạo điều kiện để các cháu phát triển về mọi mặt và ghi nhận nguyện vọng của các cháu theo quy định của pháp luật. Từ thời điểm theo chị D sinh sống vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, nguyện vọng của các cháu sau khi cha mẹ ly hôn sống cùng với chị D, nên cần ổn định cuộc sống, tâm lý của các cháu, tiếp tục giao các cháu cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Do các đương sự không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản và nợ chung: không yêu cầu, Tòa án không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: chị Lê Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 273 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ D. Cho chị Lê Thị Mỹ D được ly hôn với anh Phạm Bích T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 91, Quyển số 01, do Ủy ban nhân dân xã B.P.X, huyện Chợ Mới cấp ngày 19/7/2010 cho Lê Thị Mỹ D với anh Phạm Bích T, không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: giao các cháu Phạm Thị Thùy Tr, sinh ngày 25/5/2005, Phạm Thị Ngọc H, sinh ngày 14/10/2011 và Phạm Quốc N, sinh ngày 23/11/2019 cho chị Lê Thị Mỹ D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh Phạm Bích T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không có, nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006101 ngày 24/02/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.M, tỉnh An Giang; chị D đã nộp xong.

5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Mỹ D, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Phạm Bích T vắng mặt, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


46
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 165/2021/HNGĐ-ST ngày 12/05/2021 về ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:165/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/05/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về