Bản án 165/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 về ly hôn, con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 165/2019/HNGĐ-ST NGÀY 31/07/2019 VỀ LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 250/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2019 về việc ly hôn, con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng Hoàng M, sinh năm 1983; cư trú tại: Ấp BS, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Diễm T, sinh năm 1985; cư trú tại: Ấp TT, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Anh Đặng Hoàng M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Diễm T chung sống từ tháng 5/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến. Trong quá trình chung sống, đến năm 2016 do làm ăn thất bại nên vợ chồng xãy ra nhiều mâu thuẫn, gia đình hai bên có hòa giải nhưng chị T không thay đổi, đến tháng 6/2016 vợ chồng ly thân. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị T.

 - Về con chung: Vợ chồng có 01 người con tên Đặng Minh P, sinh ngày 14/7/2015 hiện đang sống chung với chị T. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu P cho chị T tiếp tục nuôi, cấp dưỡng không đặt ra.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về các vấn đề khác: Vợ chồng không có nợ người khác và không có người khác nợ lại vợ chồng.

Chị Nguyễn Diễm T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng chị không có ý kiến đối với nội dung và yêu cầu khởi kiện của anh M.

Tại phiên tòa: Anh M giữ nguyên nội dung yêu cầu như đơn khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Đặng Hoàng M khởi kiện yêu cầu giải quyết về ly hôn, con chung với chị Nguyễn Diễm T là vụ kiện tranh chấp ly hôn, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên tòa vắng mặt không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T.

[3] Xét về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào năm 2013, anh M và chị T kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình tại Uỷ ban nhân dân xã TT. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa anh M và chị T được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo anh M xác định nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Tuy nhiên, chị T không có ý kiến đối với nguyên nhân mâu thuẫn do anh M trình bày. Như vậy, những nguyên nhân mâu thuẫn do anh M xác định thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định chị T không thật sự còn quan tâm hay tha thiết gì đến mối quan hệ hôn nhân với anh M, không có thiện chí phối hợp với Tòa án để giải quyết vụ án. Mặt khác, tại phiên tòa anh M xác định vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, nhưng cả hai không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hiện nay anh không còn tình cảm đối với chị T, do đó anh không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với chị T.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử khẳng định mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa anh M và chị T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh M về quan hệ hôn nhân.

[5] Xét về con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu P là con chung của anh M và chị T đã hơn 04 tuổi,hiện đang sống ổn định với chị T. Khi ly hôn, anh M đồng ý giao cháu P cho chị T tiếp tục nuôi, cấp dưỡng không đặt ra. Đối với chị T, mặc dù biết được yêu cầu khởi kiện của anh M về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con, nhưng chị không có ý kiến. Từ đó, Hội đồng xét xử khẳng định chị T đã đồng ý với yêu cầu của anh M về con chung.

[6] Xết về tài sản chung và các vấn đề khác: Anh M xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết về các mối quan hệ này, còn chị T thì không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Xét về án phí dân sự: Anh M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 92; Điều 5; Điều 91; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1, khoản 2 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Hoàng M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đặng Hoàng M được ly hôn với chị Nguyễn Diễm T.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Minh P, sinh ngày 14/7/2015 cho chị Nguyễn Diễm T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đặng Hoàng M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự: Anh Đặng Hoàng M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0009441 ngày 24 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; anh Đặng Hoàng M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 165/2019/HNGĐ-ST ngày 31/07/2019 về ly hôn, con chung

Số hiệu:165/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 31/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về