Bản án 163/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 163/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1973; nơi cư trú: tổ 01, ấp C1, xã C, huyện P, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Ông Phạm Minh N1, sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ 21, ấp P, xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà N có mặt, riêng ông N1 vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu và chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà N trình bày: Bà N và ông N1 tự tìm hiểu yêu thương nhau và đi đến hôn nhân vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V năm 2003. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2009, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân do ông N1 có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài không lo cho vợ con nên hai người không còn sống chung từ thời đó cho đến nay. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông N1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, hai người có 01 con chung tên Phạm Thị Ánh D, sinh ngày 16/02/2001. Con chung hiện nay do bà N nuôi dạy, khi ly hôn bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung, không yêu cầu ông N1 phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết Về quan hệ nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp để các đương sự thực hiện quyền tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhưng ông N1 vẫn vắng mặt nên Tòa án ghi nhận sự vắng mặt ông N1 và không tiến hành hòa giải được.

Chứng cứ thu thập được: Tại biên bản làm việc ngày 15/3/2019 được bà Nguyễn Thị N2 cho biết: Bà N2 là mẹ ruột của bà N. Ông N1 và N tự tìm hiểu và sống chung như vợ chồng, gia đình hai bên không có tổ chức đám cưới. Hiện nay ông N1 và bà N đã không còn sống chung từ năm 2009. Việc mâu thuẫn giữa ông N1 và bà N gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành.

Tại biên bản xác minh từ ông Huỳnh Văn N là Phó trưởng ấp P và ông Nguyễn Thánh Đ Công an viên Công an xã Đ cho biết: Ông N1 là chồng của bà N, hiện nay ông N1 còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Ông N1 và bà N đã ly thân đã lâu. Hiện nay ông N1 đi làm thuê thỉnh thoảng có về địa phương.

Tại Phiên Tòa bà N bảo lưu ý kiến về tình cảm, tài sản chung, nợ chung nhưng xin rút lại yêu cầu về con chung do con chung đã trưởng thành không yêu cầu tòa án giải quyết. Riêng ông N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt ông N1 theo thủ tục chung.

Quan điểm Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc ghi lời khai, hòa giải, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: Bà N, ông N1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 25/06/2003. Xét đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, việc mâu thuẫn giữa bà N và ông N1 không thể hàn gắn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N được ly hôn với ông N1.

Về con chung: Có 01 con chung Phạm Thị Ánh D, sinh ngày 16/02/2001.

Con chung hiện nay đã trưởng thành và bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu, sau này ông N1 có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện A giải quyết về việc hôn nhân, nuôi con chung với ông Phạm Minh N1, đổng thời bị đơn cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông N1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N1 theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông N1 tự tìm hiểu, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 25/06/2003 theo quy định, được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông N1. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà N, ông N1 đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có đứng ra hòa giải nhưng không thành. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của bà N và ông N1 đã đến mức trầm trọng nên Hội đồng xét xử xét chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của bà N theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi dưỡng con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà N, ông N1 Có 01 con chung Phạm Thị Ánh D, sinh ngày 16/02/2001. Con chung hiện nay đã trưởng thành bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N khai tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này ông N1 có yêu cầu chia tài sản chung thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì bà Nguyệt phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Ông Nhựt không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm b, khoản 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị N.

Về hôn nhân: Bà NguyễnThị N được ly hôn với ông Phạm Minh N1.

Về con chung: Con chung Phạm Thị Ánh D đã thành niên.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010876 ngày 04/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (bà N đã nộp đủ).

(Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 25/6/2003 do Ủy ban nhân dân xã V cấp không còn giá trị pháp luật kể từ ngày án có hiệu lực theo quy định pháp luật).

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ khi được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./


75
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 163/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:163/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về