Bản án 162/2019/HNGĐ-ST ngày 20/12/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 162/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/12/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 466/2019/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn : Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1978 Địa chỉ: 19G ấp T, xã A, TP. V, tỉnh Vĩnh Long 

* Bị đơn : Anh Đặng Thanh T, sinh năm 1972 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2003 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Đặng Thanh T đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2003 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Thời gian sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau đến thời gian gần đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, bản thân chị D đã nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được, anh T cũng không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng nên đã bỏ nhà đi từ tháng 3/2019 cho đến nay. Nay chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nữa do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Thanh T.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đặng Diễm T, sinh ngày 30/3/2002. Hiện nay con chung đang sống cùng với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đồng thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Đặng Diễm T có trình bày trong Bản khai ý kiến đề ngày 23/9/2019, trong trường hợp cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu Nguyễn Đặng Diễm T có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng với mẹ cháu là chị Nguyễn Thị Mỹ D.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đặng Thanh T vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ và cũng không gửi bản khai ý kiến cho Tòa án.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D vẫn bảo lưu ý kiến của mình.

- Bị đơn anh Đặng Thanh T vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Mỹ D có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Đặng Thanh T. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Bị đơn anh Đặng Thanh T vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Đặng Thanh T.

[2] Về nội D:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2003 qua quen biết tìm hiểu nhau chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Đặng Thanh T đã tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo tập quán, có đăng ký kết hôn vào ngày 16/9/2003 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long là phù hợp với quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, do đó quan hệ hôn nhân là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ D, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Nguyễn Thị Mỹ D và anh Đặng Thanh T chung sống hạnh phúc với nhau đến thời gian gần đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi nhau, bản thân chị D đã nhiều lần cố gắng khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng vẫn không được, hơn nữa anh T cũng không quan tâm đến cuộc sống vợ chồng nên đã bỏ nhà đi từ tháng 3/2019 đến nay cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T là tình cảm vợ chồng không còn do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thanh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Đặng Diễm T, sinh ngày 30/3/2002. Hiện nay con chung đang sống cùng với chị D. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đồng thời không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Nguyễn Đặng Diễm T có trình bày trong Bản khai ý kiến đề ngày 23/9/2019, trong trường hợp cha và mẹ cháu ly hôn với nhau, cháu Nguyễn Đặng Diễm T có nguyện vọng được tiếp tục chung sống cùng với mẹ cháu là chị Nguyễn Thị Mỹ D. Do đó cần ghi nhận nguyện vọng của cháu Nguyễn Đặng Diễm T, khi ly hôn giao cháu Nguyễn Đặng Diễm T cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục theo nguyện vọng của cháu là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Nguyễn Thị Mỹ D không yêu cầu anh Đặng Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ D là nguyên đơn nên phải chịu T bộ án phí giải quyết vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 - Áp dụng các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Thanh T.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đặng Diễm T, sinh ngày 30/3/2002 cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục đồng thời anh Đặng Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, anh Đặng Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ D nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ từ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu số 0005256 ngày 01/10/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết theo thủ tục phúc thẩm./


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 162/2019/HNGĐ-ST ngày 20/12/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:162/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/12/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về