Bản án 16/2020/HS-ST ngày 17/04/2020 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG - TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 16/2020/HS-ST NGÀY 17/04/2020 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2020 và thông báo thay đổi thời gian xét xử số 01/2020/TB-TA ngày 06 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Vũ Trường S, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1998 tại huyện H, tỉnh S. Hộ khẩu thường trú: Số *, ngõ *, đường X, khu T, thị trấn H, huyện H, tỉnh S; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa : Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Mạnh H (đã chết) và bà Hoàng Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 02 tiền án: ngày 31/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 25/2017/HSST và ngày 17/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 66/2018/HSST; tiền sự: Không có; nhân thân: ngày 29/10/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 04 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” tại Bản án số 60/2015/HSST và ngày 11/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án bị cáo phải chấp hành là 10 tháng tù tính từ ngày 11/12/2015 tại Bản án số 78/2015/HSST; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2020 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Văn C, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh S. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Đăng L, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh S, vắng mặt.

2. Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh L. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn D, xã S, huyện H, tỉnh L. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Chị S, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn R, xã Đ, huyện H, tỉnh L, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Trường S và anh Phạm Văn C có quen biết nhau do cùng làm công nhân tại Công ty SBV tại thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh S và cùng ở dãy trọ của Công ty.

Khong 19 giờ ngày 05/01/2020 Vũ Trường S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE A màu trắng – đen –bạc (xe đã đăng ký biển kiểm soát 12H1 – 370.18 nhưng chưa được cấp biển) của anh Phạm Văn C chở anh Phạm Văn C từ Công ty SBV đến nhà nghỉ HS tại thôn R, xã Đ, huyện H để nghỉ. Đến nhà nghỉ, Vũ Trường S lấy phòng cho anh Phạm Văn C xong Vũ Trường S điều khiển xe của anh C về Công ty.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Vũ Trường S quay lại nhà nghỉ HS đón anh Phạm Văn C nhưng do không có tiền thanh toán tiền phòng nên Vũ Trường S bảo anh Phạm Văn C chờ ở nhà nghỉ và cho bị cáo mượn xe mô tô đi vay tiền và được anh Phạm Văn C đồng ý. (Trong cốp xe anh Phạm Văn C có 01 thẻ nạp điện thoại mệnh giá 300.000đ, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn C, 01 tờ giấy mua bán xe và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 1200). Vũ Trường S điều khiển xe về nhà bà nội là bà Hoàng Thị T ở khu H, thị trấn H xin tiền nhưng bà T không cho, nên Vũ Trường S đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếu xe mô tô của anh Phạm Văn C. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Vũ Trường S gặp Nguyễn Đăng L nhờ đưa đi tìm nơi cầm cố xe. Nguyễn Đăng L đã đưa Vũ Trường S đến gặp chị Nguyễn Thị C (hàng xóm của L) để cầm cố. Do quen biết với Nguyễn Đăng L nên chị Nguyễn Thị C đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe với số tiền 10.000.000đ, Vũ Trường S lấy chiếc thẻ điện thoại mệnh giá 300.000đ trong cốp xe mô tô để sử dụng, còn điện thoại cùng giấy mua bán xe và chứng minh nhân dân bị cáo để lại trong cốp xe. Sau khi cầm cố được xe, Vũ Trường S rủ Nguyễn Đăng L và Hoàng Văn H đi xuống thị trấn K, huyện L, tỉnh B chơi.

Anh Phạm Văn C sau khi chờ ở nhà nghỉ không thấy Vũ Trường S quay lại đón, gọi điện thoại nhưng không liên lạc được, đến nhà tìm cũng không thấy Vũ Trường S, đến ngày 10/01/2020 vẫn không thấy Vũ Trường S mang xe về trả và không liên lạc được với bị cáo, nên anh đã làm đơn trình báo công an huyện Hữu Lũng.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 16/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE A màu trắng – đen –bạc, đã đăng ký biển kiểm soát 12H1 – 370.18 của anh Phạm Văn C mua mới ngày 25/12/2019 với giá 20.000.000đ, tại thời điểm ngày 05/01/2020 có trị giá là 18.000.000đ, chiếc điện thoại di động NOKIA 1200 trị giá 90.000đ.

Trước đó, bị cáo Vũ Trường S có 02 tiền án, cụ thể: Ngày 31/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 25/2017/HSST và ngày 17/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 66/2018/HSST, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSHL-HS ngày 17/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Vũ Trường S về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trường S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung cáo trạng đã truy tố và đồng ý trả lại số tiền 10.000.000đ cho chị Nguyễn Thị C theo yêu cầu của chị C.

Quá trình điều tra, bị hại anh Phạm Văn C khai: Do tin tưởng nên anh đã cho Vũ Trường S mượn xe mô tô đi vay tiền về trả tiền nhà nghỉ, nhưng không thấy Vũ Trường S quay lại đón và trả xe, mấy ngày sau vẫn không thấy Vũ Trường S mang xe về trả, anh đã gọi điện thoại và đến nhà tìm nhưng không gặp được Vũ Trường S nên anh đã trình báo công an huyện Hữu Lũng. Nay anh đã được nhận lại tài sản cùng giấy tờ và điện thoại nên không có yêu cầu bồi thường gì; còn thẻ điện thoại mệnh giá 300.000đ cũng không yêu cầu bị cáo trả lại.

Ngưi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đăng L khai: Ngày 05/01/2020 anh được đưa Vũ Trường S đến gặp chị Nguyễn Thị C cầm cố 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE A chưa gắn biển kiểm soát để lấy số tiền 10.000.000đ nhưng không biết đó là xe do Vũ Trường S phạm tội mà có. Khi đi chơi cùng Vũ Trường S, anh có được vay Vũ Trường S 1.200.000đ chưa trả. Hoàng Văn H khai: Ngày 05/01/2020 anh được Vũ Trường S rủ xuống thị trấn K, huyện L, tỉnh B chơi và anh có được vay S 1.200.000đ. Đến ngày 06/01/2020 anh trở về nhà, còn Vũ Trường S đi đâu anh không biết. Việc Nguyễn Đăng L và Vũ Trường S đi cầm cố xe như thế nào anh không biết và không liên quan. Chị Nguyễn Thị C khai: Khi thấy Nguyễn Đăng L đưa 01 người bạn đến cầm cố xe mô tô HONDA WAVE A chưa gắn biển kiểm soát, thấy xe còn mới, có giấy tờ mua bán và chứng minh nhân dân, nghĩ đó là xe của người bạn đi cùng L nên chị đã đồng ý nhận cầm cố với số tiền 10.000.000đ, chị không biết đó là xe do phạm tội mà có. Quá trình điều tra chị đã mang nộp lại chiếc xe mô tô, cùng giấy tờ mua bán, giấy chứng minh nhân dân và 01 điện thoại NOKIA 1200 để trong cốp xe. Nay chị yêu cầu bị cáo có trách nhiệm trả lại cho chị số tiền 10.000.000, chị không yêu cầu trả lãi.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Trường S phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Trường S từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đối với chiếc thẻ điện thoại trị giá 300.000đ bị cáo đã chiếm đoạt sử dụng, nay truy thu đối với bị cáo số tiền 300.000đ để sung ngân sách Nhà nước; về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Vũ Trường S phải có trách nhiệm trả lại cho chị Nguyễn Thị C số tiền 10.000.000đ; bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Đối với số tiền 10.000.000đ do bị cáo Vũ Trường S phạm tội mà có đã sử dụng hết, đề nghị truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với việc vay tiền của Nguyễn Đăng L và Hoàng Văn H vay bị cáo Vũ Trường S mỗi người 1.200.000đ là quan hệ dân sự khác không liên quan đến vụ án nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trường S không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hữu Lũng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Vũ Trường S tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận định giá, lời khai bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 05/01/2020 lợi dụng sự tin tưởng của anh Phạm Văn C cho bị cáo mượn xe mô tô đi vay tiền trả tiền phòng nghỉ, bị cáo Vũ Trường S đã mang chiếc xe của anh Phạm Văn C đi cầm cố lấy số tiền 10.000.000đ đem tiêu sài cá nhân hết, nay không co kha năng chuôc lai xe tra cho anh Phạm Văn C. Giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt có tổng trị giá là 18.390.000đ. Ngoài ra trước đó bị cáo có 02 tiền án vào năm 2017 và 2018 chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết định khung tăng nặng đối với bị cáo. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 175 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi bị cáo Vũ Trường S đa thực hiện là nguy hiểm cho xã hội , trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ va gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự không có.

[5] Về nhân thân: Năm 2015 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử 02 lần đều về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt của cả hai bản án là 10 tháng tù giam, nay đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu. Hơn nữa ngay sau khi mãn hạn tù đối với tiền án vào năm 2018 được một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo là người thiếu ý thức rèn luyện và coi thường pháp luật.

[6] Trên cơ sơ xem xet , đanh gia tinh chât, mưc đô nguy hiêm cua hanh vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cua bị cáo, Hôi đông xet xư xet thây cân cach ly bi cao ra khoi đơi sông xa hôi môt thơi gian dài đê giao duc bi cao va đam bao tinh răn đe phong ngưa chung.

[7] Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét bị cáo không không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại anh Phạm Văn C đã được nhận lại tài sản, nay không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị C yêu cầu bị cáo Vũ Trường S trả số tiền 10.000.000đồng là có căn cứ, cần chấp nhận buộc bị cáo Vũ Trường S phải có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị C số tiền trên. Trường hợp chậm trả tiền thì bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định của pháp luật. Đối với chiếc thẻ điện thoại mệnh giá 300.000đ của anh Phạm Văn C, bị cáo đã chiếm đoạt và sử dụng, nên truy thu số tiền 300.000đ đối với bị cáo để sung ngân sách Nhà nước.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về việc truy thu bị cáo Vũ Trường S số tiền 10.000.000đ để nộp ngân sách Nhà nước, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là không phù hợp, vì số tiền 10.000.000đ này chính là thiệt hại của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị C do bị cáo gây ra, nay bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền này cho chị Nguyễn Thị C nên không thể tiếp tục truy thu, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[10] Đối với Nguyễn Đăng L là người đưa bị cáo Vũ Trường S đi cầm cố tài sản, nhưng Nguyễn Đăng L không biết đó là tài sản do bị cáo Vũ Trường S phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Đối với việc Nguyễn Đăng L và Hoàng Văn H vay tiền của bị cáo Vũ Trường S, xét đây là quan hệ dân sự, không liên quan đến vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội để sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Điều 357; Điều 579; khoản 1 Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trường S phạm tội "Lạm dụng tín nhiêm chiêm đoat tai san".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Trường S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/01/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Trường S.

Truy thu đối với bị cáo Vũ Trường S số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Trường S có trách nhiệm trả cho chị Nguyễn Thị C số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Trường S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự có giá ngạch để sung Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


8
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2020/HS-ST ngày 17/04/2020 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:16/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về