Bản án 43/2017/HSST ngày 25/10/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 43/2017/HSST NGÀY 25/10/2017 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 10 năm 2017 tại: Phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 34/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn M; tên gọi khác: Nông Văn C, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1990; nơi đăng ký hộ khẩu và nơi cư trú: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; con ông: Nông Văn D, sinh năm: 1960 và bà: Đinh Thị C, sinh năm: 1965 (Đã chết năm 1992); mẹ kế: Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1971; anh, chị, em ruột: Có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có

Tiền án: 01 tiền án, ngày 25/01/2016, Nông Văn M bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định tuyên phạt 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Bản án số: 02/2016/HSST).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2017 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định cho đến nay; có mặt.

- Người bị hại:

Anh Nông Văn T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1985; trú tại: số 47, đường T, Khu 4, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nông Văn M bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ 30 ngày 27/7/2017, tại Ngã ba “S” thuộc thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn M, tên gọi khác: Nông Văn C gặp Nông Văn T hỏi mượn xe mô tô biển kiểm soát 12K5-7913 với lý do “đi có việc” và hẹn đi một lúc sẽ mang về trả ngay, T đồng ý. Sau khi mượn được xe, M điều khiển xe mô tô một mình ra thị trấn T với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Ra đến nơi, M gặp Hoàng Văn H2 (Sinh năm 1986; trú tại: Thôn K, xã D, huyện T, tỉnh Lạng Sơn) rồi về nhà H2 chơi đến ngày 29/7/2017, sau đó M tiếp tục đến nhà Vũ Văn H3 (Sinh năm: 1972, trú tại: Thôn X, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn) chơi và ngủ lại. Trong khoảng thời gian này M vẫn thường xuyên ra thị trấn T chơi và mua ma túy sử dụng mà chưa mang xe về trả cho anh T. Đến khoảng 13 giờ ngày 28/7/2017, với mục đích để kéo dài thời gian mượn xe, M đã mượn điện thoại của Vũ Văn H3 (số thuê bao 096963xxxx) nhắn tin cho T (số thuê bao 0168543xxxx) với nội dung chiếc xe máy của M mượn T mang đi đã đâm vào người khác và bị Công an xã Đại Đồng giữ lại bảo chuộc số tiền 1.500.000 đồng.

Khoảng 18 giờ ngày 30/7/2017, vì không có tiền mua chất ma túy về sử dụng nên M đã nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe mô tô của anh T. Sau đó, M gặp Hoàng Văn H1 và nói “em có chiếc xe máy, anh cầm cho em lấy 800.000đ, xong mấy ngày sau em sẽ chuộc lại”, H1 đồng ý và cầm cố với M chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5-7913 với số tiền 700.000 đồng. Khi cầm cố chiếc xe, M nói với H1 đây là xe của mình nhưng không mang theo giấy tờ. Số tiền 700.000 đồng này M đã dùng 300.000 đồng để mua 03 gói ma túy với Trần Phi H4 (Sinh năm 1957, trú tại khu 2, thị trấn T, huyện T) về sử dụng, còn 400.000 đồng M sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 31/7/2017, Cơ quan điều tra đã tạm giữ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5-7913 do Hoàng Văn H1 giao nộp. Tại biên bản họp Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tràng Định ngày 07/8/2017 đã kết luận: Chiếc xe mô tô HONDA WAVE biển kiểm soát 12K5-7913 bị Nông Văn M chiếm đoạt có giá trị 2.450.000đ (Hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng đến quá trình điều tra vụ án, ngày 12/9/2017, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản là chiếc xe mô tô BKS 12K5-7913 cho anh Nông Văn T là chủ sở hữu.

Đối với Hoàng Văn H1 được cầm cố chiếc xe mô tô BKS 12K5-7913 với Nông Văn M. Xét thấy khi cầm cố, H1 không biết đây là tài sản M muốn chiếm đoạt bất hợp pháp nên không đề cập xử lý H1 trong vụ án này.

Tại Cáo trạng số: 35/KSĐT ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để xét xử đối với Nông Văn M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 140 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố.

Phần tranh luận vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 33 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Không đề nghị xử phạt bổ sung.

Về phần dân sự: Không xem xét giải quyết do người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.

Về tang vật: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại chiếc xe mô tô cho người bị hại. Truy thu số tiền 700.000 đồng đối với bị cáo do phạm tội mà có.

Bị cáo không tranh luận.

Người bị hại tranh luận là đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra lại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận lại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

XÉT THẤY

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/7/2017, tại Ngã ba “S” thuộc thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, Nông Văn M mượn được chiếc xe mô tô BKS 12K5-7913 của Nông Văn T với lý do “đi có việc” và hẹn đi một lúc sẽ mang về trả ngay. Sau đó M điều khiển xe đến chơi và ở lại nhà Hoàng Văn H2 và Vũ Văn H3 mà chưa đem xe về trả anh T. Đến ngày 30/7/2017, vì không có tiền mua ma túy, M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt và tự ý đem chiếc xe mô tô BKS 12K5-7913 đi cầm cố với anh Hoàng Văn H1 lấy số tiền 700.000 đồng mua ma túy về sử dụng và chi tiêu cá nhân hết dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Qua định giá, chiếc xe mô tô BKS 12K5-7913 là tài sản của Nông Văn T bị Nông Văn M chiếm đoạt có giá trị là 2.450.000 đồng (Hai triệu bn trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo lợi dụng sự quen biết với người bị hại để mượn tài sản của người bị hại, sau khi mượn được tài sản bị cáo đã dùng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp là cầm cố chiếc xe mô tô để nhằm chiếm đoạt tài sản dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, qua định giá tài sản bị chiếm đoạt chưa đến 4.000.000 đồng nhưng trước đó bị cáo đã có 01 tiền án, tại Bản án số 02/2016/HSST ngày 25/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 140 của Bộ luật hình sự. Nhận thấy cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 140 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây dư luận xấu trong nhân dân tại khu dân cư nên cần phải xử lý về hình sự đối với bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, vì mặc dù trước đó bị cáo có 01 tiền án nhưng đây là tình tiết định tội, do đó, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Thấy tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn và người bị hại xin giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi, trong độ tuổi lao động nhưng ham chơi, đua đòi, nghiện chất ma túy, đã phạm tội và bị xử lý trách nhiệm hình sự, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân còn dấn thân vào con đường phạm tội, nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 140 của Bộ luật hình sự: Thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả cho người bị hại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5- 7913 và truy thu số tiền bị cáo phạm tội mà có.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 140; điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 31 tháng 7 năm 2017.

- Việc bồi thường thiệt hại: Không xem xét giải quyết do người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.

- Việc xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Bộ luật hình sự xử lý như sau:

Xác nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã trả cho anh Nông Văn T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12K5-7913.

Truy thu đối với bị cáo Nông Văn M số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đng) để sung công quỹ Nhà nước.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nông Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, người bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi người đó cư trú.


130
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2017/HSST ngày 25/10/2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:43/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tràng Định - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/10/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về