Bản án 16/2020/HNGĐ-ST ngày 04/09/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 16/2020/HNGĐ-ST NGÀY 04/09/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 121/2020/TLST- HNGĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2020, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 17 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1968, địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 6 năm 2020, bản tự khai, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Ngô Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H có tổ chức đám cưới theo nghi lễ cổ truyền vào ngày 25/02/1989 (âm lịch), anh chị sống chung với nhau như vợ chồng từ đó đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống của vợ chồng theo chị Ngô Thị H là không có hạnh phúc, do anh chị không hợp nhau và thường xuyên gây sự với nhau chỉ vì những điều nhỏ nhặt, thậm chí có lần còn xảy ra xô xát. Đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do anh Nguyễn Văn H ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng gây gổ đánh nhau. Chị thấy rằng cuộc sống hôn nhân với anh Nguyễn Văn H quá áp lực, không có hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay không còn quan tâm, liên lạc với nhau, cuộc sống của ai người đấy tự lo. Chị xác định không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không có hạnh phúc và yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Về con chung: Có 03 con chung, tên là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990, Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1997. Các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Ngô Thị H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Qúa trình chung sống vợ chồng có hạnh phúc nhưng từ khoảng 7 năm gần đây thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nữa, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không hợp nhau, mỗi người một suy nghĩ, không ai hiểu nhau, bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt dẫn đến chửi bới xúc phạm nhau, thậm trí có lần xảy ra xô xát. Đến nay anh thấy rằng cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Anh xác định không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không có hạnh phúc và đồng ý ly hôn với chị Ngô Thị H.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung, tên là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990, Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1997. Các con đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật: Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; Về nội dung vụ án: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Ngô Thị H và ông Nguyễn Văn H; về con chung: Không xem xét giải quyết; về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về việc "Ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Đối với quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xem xét, giải quyết.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H chung sống với nhau nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, tuy nhiên, cả chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H đều thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 đến nay. Hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Mặt khác, chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Ngô Thị H có yêu cầu xin ly hôn nhưng hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H không có đăng ký kết hôn, nên xét không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ngô Thị H mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H đều khẳng định có 03 con chung, tên là Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990; Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992 và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1997. Chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Do chị Ngô Thị H có yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 144, 146, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Ngô Thị H và anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước. Số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0001908, ngày 05 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn được khấu trừ thành tiền án phí. Chị Ngô Thị H đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2020/HNGĐ-ST ngày 04/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:16/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về