Bản án 16/2019/HS-ST ngày 27/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 27/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong các ngày 25 và 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:19/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Hoàng S, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú: Khóm L, Phường 1, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nơi sinh sống: Khóm L, Phường 1, thị xã D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiêp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 4/12; dân tôc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tich: Viêt Nam; con ông Lê Hoàng Đ, sinh năm 1955 (chết) va ba Phạm Thị Ch, sinh năm 1955; có vợ và 02 con; tiền án: Không có, tiền sự: Không có; nhân thân: bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” vào năm 2004 và án tích đã được xóa. Bi cao bi tạm giữ từ ngày 21/3/2019 đến ngày 27/3/2019 chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Lê Hoàng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015). Hành vi bị truy tố của bị cáo như sau: Vào khoảng 15 giờ ngày 21/3/2019, bị cáo Lê Hoàng S điều khiển xe mô tô biển số 84F2-2752 từ xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh đến địa bàn thị xã D, tỉnh Trà Vinh để gặp người bạn tên C (không rõ họ, năm sinh và địa chỉ). Khi gặp nhau tại khu vực ngã ba Bệnh viện D, C đưa cho bị cáo S một cái bóp màu hồng (bên trong có chứa dụng cụ sử dụng ma túy đá) và 05 bịt nhựa màu trắng được hàn kín bên trong có chứa ma túy đá ( gồm 04 bịt nhỏ và 01 bịt lớn). Sau đó, C kêu bị cáo S tìm chỗ nghỉ một lát C lại. C còn nói: “đồ trong bọc có chơi thì chơi trước đi”. Xong bị cáo S điều khiển xe đi đến nhà trọ TN thuộc Khóm X, Phường 1, thị xã D thuê phòng trọ số 4. Khi vào phòng, bị cáo S lấy dụng cụ sử dụng ma túy để trên bàn và lấy ma túy trong bịt lớn ra sử dụng. Sử dụng ma túy xong, bị cáo S hàn kín bịt ma túy lớn rồi bỏ vào túi quần và nằm nghỉ thì bị bị lực lượng công an kiểm tra. Quá trình kiểm tra, cơ quan điều tra lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, bên trong cái bóp màu hồng có một số dụng cụ sử dụng ma túy như: nỏ, kéo, ống quẹt, ống hút, ống dẫn lửa). Thu trên người của bị cáo S 05 bịt ma túy gồm 01 bịt ma túy bỏ trong túi quần niêm phong trong phong bì (đánh số 1), 04 bịt ma túy trong bóp đựng tiền từ túi quần của bị cáo S niêm phong trong phong bì (đánh số 2).

Tại kết luận giám định số: 144/KLGĐ-PC09 ngày 23/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: Mẫu tinh thể không màu bên trong 01 bịt nhựa được niêm phong trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2408 gam, loại Methamphetamine; Mẫu tinh thể không màu bên trong 04 bịt nhựa được niêm phong trong phong bì (đánh số 2) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5052 gam, loại Methamphetamine

Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng S thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải mô tả và truy tố.

Trong phần tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Hoàng S như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Không có.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) bịt nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu. Đã được niêm phong, đánh số thứ tự 01; 04 (bốn) bịt nhựa màu trắng được hàn kín, mỗi bịt bên trong có chứa tinh thể không màu. Đã được niêm phong, đánh số thứ tự 02; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 bình tự chế từ chai bằng nhựa; 01 cái nỏ bằng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa (cái nỏ và ông hút được gắn trên bình nhựa); 01 (một) cây kéo bằng kim loại nhỏ; 02 (hai) cây nỏ bằng thủy tinh; 04 (bốn) ống hút bằng nhựa; 01 (một) ống quẹt màu đỏ, đầu bằng kim loại màu trắng; 04 (bốn) đoạn ông quẹt đã bị cắt mất phần đầu, phần trên đầu có gắn ống dẫn lửa; 02 (hai) ống dẫn lửa bằng kim loại, có chiều dài 10 cm và 05 cm; 01 (một) bình khí LPG đóng chai dùng cho ống quẹt hiệu BLUESTAR, màu đen; 01 (một) cái bóp da màu đen dạng hình chữ nhật (35cm x 9,5cm), bóp có nhiều ngăn nhãn hiệu LEVI’S; 01 cái bóp màu hồng nhạt dạng hình chữ nhật (19cm x 10cm) có một ngăn, có dây kéo, có quai dài 14cm.

Đối với hành vi của đối tượng tên C sẽ được tiếp tục điều tra làm rõ nên vị Kiểm sát viên đề nghị khi nào có kết quả điều tra sẽ xem xét, xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Hoàng S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Lời khai nhận tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lơi khai cua bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vơi các tinh tiết và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ để xác định: Vào chiều ngày 21 tháng 3 năm 2019, bị cáo Lê Hoàng S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị lập biên bản phạm tội quả tang tại Phòng số 4 Nhà trọ TN thuộc Khóm X, Phường 1, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Số ma túy bị cáo Lê Hoàng S tàng trữ theo Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long có khối lượng tổng cộng là 0,746 gam, loại Methamphetamine. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với hành vi của đối tượng tên C sẽ được tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có kết quả điều tra sẽ xem xét, xử lý sau.

[2] Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại hay có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[3] Hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là hành vi bị pháp luật cấm. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do bị cáo gây ra.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo và anh ruột bị cáo (Lê Hoàng K) có thời gian tham gia quân đội; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng như: mẹ ruột bị cáo là bà Phạm Thị Ch được Bộ Tư lệnh Quân khu 9 cấp giấy chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến; ông, bà nội, các bác và cha bị cáo là thương binh; có bác bị cáo là Liệt sĩ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng đã được xóa án tích.

[5] Về hình phạt: Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Lê Hoàng S đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Căn cứ quy định về điều kiện được hưởng án treo tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì một trong những điều kiện được hưởng án treo là bị cáo phải “có nhân thân tốt”, tức là ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Do đó, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo do bị cáo từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích.

Đối với mức hình phạt mà vị Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt này là tương xứng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, khi xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng; cộng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ không nhiều nên Hội đồng xét xử đã rất thận trọng khi thảo luận và biểu quyết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng mức hình phạt có thể thấp hơn đề nghị của vị Kiểm sát viên. Với mức hình phạt như vậy, vừa có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo nhưng cũng để bị cáo và những người khác thấy rằng pháp luật của Việt Nam luôn khoan hồng với những ai phạm tội nhưng biết thành khẩn khai báo và thực sự biết ăn năn, hối cải.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng, vật chứng trong vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị. Kiểm sát viên đề Hội đồng xét xử căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí, giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Lê Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Hoàng S 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 21/3/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) bịt nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể không màu. Đã được niêm phong, đánh số thứ tự 01.

+ 04 (bốn) bịt nhựa màu trắng được hàn kín, mỗi bịt bên trong có chứa tinh thể không màu. Đã được niêm phong, đánh số thứ tự 02.

+ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 bình tự chế từ chai bằng nhựa; 01 cái nỏ bằng thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa (cái nỏ và ông hút được gắn trên bình nhựa).

+ 01 (một) cây kéo bằng kim loại nhỏ.

+ 02 (hai) cây nỏ bằng thủy tinh.

+ 04 (bốn) ống hút bằng nhựa.

+ 01 (một) ống quẹt màu đỏ, đầu bằng kim loại màu trắng.

+ 04 (bốn) đoạn ông quẹt đã bị cắt mất phần đầu, phần trên đầu có gắn ống dẫn lửa.

+ 02 (hai) ống dẫn lửa bằng kim loại, có chiều dài 10 cm và 05 cm.

+ 01 (một) bình khí LPG đóng chai dùng ch0 ống quẹt hiệu BLUESTAR, màu đen.

+ 01 (một) cái bóp da màu đen dạng hình chữ nhật (35cm x 9,5cm), bóp có nhiều ngăn nhãn hiệu LEVI’S.

+ 01 cái bóp màu hồng nhạt dạng hình chữ nhật (19cm x 10cm) có một ngăn, có dây kéo, có quai dài 14cm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Hoàng S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo Lê Hoàng S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


32
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về